Y tế - Sức khỏe
Mở rộng nguồn lực cho Bảo hiểm y tế, giảm gánh nặng chi trả của người bệnh
D.Ngân - 29/08/2026 14:17
Chi tiền túi vẫn chiếm gần 40% tổng chi y tế, trong khi nhu cầu khám, chữa bệnh và tiếp cận thuốc mới ngày càng tăng. Mở rộng nguồn lực cho Bảo hiểm y tế vì thế không chỉ là bài toán cân đối quỹ, mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng bảo vệ tài chính cho hàng triệu người bệnh.

Bao phủ Bảo hiểm y tế đã tiến gần mục tiêu toàn dân, nhưng bài toán tiếp theo đang trở nên khó hơn là làm thế nào để người dân không chỉ có thẻ Bảo hiểm y tế mà còn thực sự được giảm gánh nặng tài chính khi mắc bệnh, đặc biệt với những bệnh cần điều trị kéo dài hoặc sử dụng thuốc có chi phí cao.

Vấn đề này được đặt ra tại Hội nghị khoa học toàn quốc năm 2026 với chủ đề “Nghiên cứu và ứng dụng trong y học”, do Tổng hội Y học Việt Nam phối hợp với Bộ Y tế vừa tổ chức.

Chi tiền túi vẫn chiếm gần 40% tổng chi y tế, trong khi nhu cầu khám, chữa bệnh và tiếp cận thuốc mới ngày càng tăng. 

Các chuyên gia nhận định Việt Nam đang có một “cửa sổ cơ hội” quan trọng khi tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đã ở mức rất cao, trong khi tài chính công dành cho y tế vẫn còn dư địa để tăng thêm. Tuy nhiên, khoảng thời gian thuận lợi này không còn nhiều khi dân số già hóa nhanh, bệnh không lây nhiễm gia tăng, nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế ngày càng lớn và chi phí điều trị tiếp tục tăng.

Hiện bệnh không lây nhiễm được cho là chiếm khoảng 81% tổng số ca tử vong. Cùng với đó, chi phí khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế đã tăng khoảng 8 lần trong 14 năm, lên 123.000 tỷ đồng vào năm 2023.

Năm 2024, Quỹ Bảo hiểm y tế chi khoảng 140.000 tỷ đồng cho khám, chữa bệnh. Tuy nhiên, các hộ gia đình vẫn phải tự chi khoảng 21.500 tỷ đồng dưới hình thức tiền túi. Tỷ trọng chi trực tiếp của người dân hiện ước gần 40% tổng chi tiêu y tế.

Con số này cho thấy dù Bảo hiểm y tế đã bao phủ rộng, nhiều gia đình vẫn phải tự chi một khoản đáng kể khi khám, chữa bệnh. Với những người mắc ung thư, bệnh hiếm, bệnh mạn tính hoặc cần sử dụng thuốc thế hệ mới, phần chi trả ngoài phạm vi quỹ có thể trở thành gánh nặng rất lớn.

Đây cũng là lý do mục tiêu giảm chi tiền túi của người dân xuống dưới 30% tổng chi y tế được đặt ra trong các định hướng chính sách giai đoạn tới. Muốn đạt mục tiêu này, hệ thống không thể chỉ dựa vào việc mở rộng số người tham gia mà phải đồng thời tăng nguồn lực, mở rộng quyền lợi và sử dụng quỹ hiệu quả hơn.

Bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế) cho biết nguồn quỹ hiện có giới hạn, trong khi mức đóng đã được duy trì trong nhiều năm. Trong bối cảnh nhu cầu chi trả tăng, nhiều thuốc mới có giá thành cao và phạm vi quyền lợi ngày càng mở rộng, việc cân đối quỹ về dài hạn sẽ ngày càng khó khăn nếu cơ chế tài chính không thay đổi.

Thực tế, với một số thuốc đắt tiền, Bảo hiểm y tế hiện chỉ thanh toán một phần, chẳng hạn 50% hoặc 70%, khiến người bệnh vẫn phải tự chi trả khoản còn lại khá lớn.

Điều này đặt ra yêu cầu phải tìm thêm những nguồn lực mới cho y tế, đồng thời thiết kế cơ chế tài chính linh hoạt hơn để vừa bảo đảm khả năng chi trả của Quỹ Bảo hiểm y tế, vừa tăng mức độ bảo vệ người dân trước rủi ro bệnh tật.

Một trong những hướng đang được thảo luận là điều chỉnh mức đóng theo lộ trình từ năm 2027, đồng thời thí điểm đa dạng hóa các gói Bảo hiểm y tế và phát triển Bảo hiểm y tế bổ sung theo nhu cầu của người dân.

Còn theo Ths.Hoàng Trung Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, đổi mới cơ chế tài chính dự kiến sẽ được triển khai từng bước, thay vì tạo ra thay đổi quá lớn trong một thời điểm.

Một đề xuất đáng chú ý khác là đa dạng hóa nguồn thu cho lĩnh vực y tế thông qua việc nghiên cứu dành một phần nguồn thu từ thuế thuốc lá, rượu bia, đồ uống có đường cho phòng bệnh, quản lý bệnh mạn tính, khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc và phát hiện sớm bệnh.

Cách tiếp cận này dựa trên nguyên tắc sử dụng một phần nguồn thu từ các sản phẩm có nguy cơ gây hại sức khỏe để tái đầu tư cho hệ thống y tế và các hoạt động dự phòng.

Trong bối cảnh bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư và các bệnh không lây nhiễm ngày càng phổ biến, đầu tư cho phòng bệnh có thể giúp giảm chi phí điều trị về lâu dài. Nếu người dân được sàng lọc, phát hiện bệnh sớm và quản lý tốt ngay từ giai đoạn đầu, nhu cầu nhập viện, sử dụng kỹ thuật cao hoặc điều trị biến chứng có thể giảm đáng kể.

Về phía quốc tế, TS.Jennifer Gill, Phó Giám đốc Nhóm Nghiên cứu Công nghệ Y tế, Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London cho rằng, Việt Nam có thể tập trung vào ba hướng lớn để tăng nguồn lực cho hệ thống y tế. Trước hết là tăng nguồn thu công. Ngoài ngân sách nhà nước, có thể nghiên cứu dành một phần nguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá, rượu bia, đồ uống có đường, thậm chí một phần nguồn thu từ xổ số cho y tế. Thứ hai là tăng cường cơ chế chia sẻ tài chính thông qua Bảo hiểm y tế, kết hợp với các hình thức bổ sung như Bảo hiểm y tế bổ sung hoặc tài khoản tiết kiệm y tế.

Thứ ba là sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, đặc biệt với các thuốc và công nghệ mới có chi phí rất cao. Đây là vấn đề ngày càng quan trọng khi y học phát triển nhanh, nhiều thuốc mới có khả năng mang lại lợi ích điều trị đáng kể nhưng mức giá vượt quá khả năng chi trả của phần lớn người bệnh và tạo sức ép lớn lên quỹ.

Một trong những mô hình được đề cập là Thỏa thuận tiếp cận có quản lý. Với cơ chế này, bên chi trả và nhà sản xuất có thể xây dựng thỏa thuận chia sẻ rủi ro dựa trên hiệu quả thực tế của thuốc, số lượng người bệnh hoặc mức ngân sách đã được xác định.

Nhiều quốc gia đã áp dụng mô hình này để tạo cơ hội cho người bệnh tiếp cận thuốc mới mà không khiến ngân sách y tế phải gánh toàn bộ rủi ro ngay từ đầu.

Tuy nhiên, để áp dụng hiệu quả tại Việt Nam, hệ thống cần nâng cao năng lực đánh giá công nghệ y tế, xây dựng cơ sở dữ liệu đủ tốt, tăng cường giám sát và có đội ngũ đủ chuyên môn để đàm phán với các nhà sản xuất.

Cùng với đó, các chương trình hỗ trợ thuốc cho người bệnh cũng được xem là một giải pháp có thể triển khai trong ngắn hạn. Thông qua mô hình này, nhà sản xuất tham gia hỗ trợ một phần thuốc hoặc chi phí điều trị, giúp người bệnh tiếp cận những liệu pháp có giá thành cao.

Nhưng về dài hạn, các chuyên gia cho rằng không thể chỉ dựa vào từng chương trình hỗ trợ riêng lẻ. Điều cần thiết hơn là xây dựng một cơ chế tài chính y tế bền vững, có khả năng thích ứng với tốc độ già hóa dân số, thay đổi mô hình bệnh tật và sự phát triển của công nghệ điều trị.

Bài toán tài chính cho Bảo hiểm y tế vì vậy không chỉ là câu chuyện tăng thu hoặc tăng mức đóng. Điều quan trọng hơn là xác định nguồn lực được sử dụng vào đâu, nhóm người bệnh nào cần được ưu tiên và cơ chế nào giúp mỗi đồng chi cho y tế tạo ra hiệu quả lớn nhất.

Nếu nguồn lực mới được dành nhiều hơn cho phòng bệnh, sàng lọc, quản lý bệnh mạn tính và phát hiện sớm, hệ thống có thể giảm được một phần chi phí điều trị đắt đỏ ở giai đoạn muộn. Nếu cơ chế mua sắm, đàm phán giá và tiếp cận thuốc mới được cải thiện, người bệnh có thể được hưởng nhiều hơn mà không làm tăng tương ứng áp lực lên quỹ.

Mục tiêu cuối cùng của đổi mới tài chính y tế vì thế không phải chỉ là giữ cho Quỹ Bảo hiểm y tế cân đối về con số. Quan trọng hơn là làm sao để người dân khi mắc bệnh không phải đối diện với nguy cơ kiệt quệ tài chính chỉ vì chi phí điều trị.

Hiện nay, người tham gia bảo hiểm y tế được hưởng theo ba mức quyền lợi là 80%, 95% và 100%. Chẳng hạn, với người có mức hưởng 80%, nếu đi khám ngoại trú trái tuyến tại bệnh viện được xếp cấp cơ bản với tổng chi phí khám chữa bệnh là 1 triệu đồng, quỹ bảo hiểm y tế sẽ thanh toán 400.000 đồng, tương đương 50% của mức hưởng 80%, phần còn lại người bệnh tự chi trả.

Theo phân cấp hiện hành, đa số các bệnh viện tuyến trung ương thuộc Bộ Y tế được xếp cấp chuyên sâu. Tuy nhiên, một số bệnh viện được xếp cấp cơ bản như Bệnh viện Hữu Nghị, Viện Pháp y tâm thần Trung ương tại Hà Nội; Bệnh viện Tâm thần Trung ương II, Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa tại Đồng Nai; Bệnh viện 71 Trung ương và Bệnh viện Điều dưỡng phục hồi chức năng Trung ương tại Thanh Hóa.

Ngoài ra còn có một số cơ sở như Bệnh viện Trung ương Huế cơ sở 2, Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới, Bệnh viện Phong và Da liễu Trung ương Quy Hòa, Bệnh viện 74 Trung ương, Bệnh viện Phong và Da liễu Trung ương Quỳnh Lập, Viện Y học biển, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam.

Nhiều bệnh viện thực hành của các trường đại học y dược như Bệnh viện Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương, Bệnh viện Đại học Y Thái Bình, Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng, Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ hay Bệnh viện Tuệ Tĩnh cũng được xếp cấp cơ bản.

Đối với ngành Công an, bốn bệnh viện trực thuộc Bộ Công an gồm Bệnh viện 19-8, Bệnh viện 30-4, Bệnh viện 199 và Bệnh viện Y học cổ truyền cũng nằm trong nhóm cơ sở được áp dụng chính sách này.

Tin liên quan
Tin khác