Trong bối cảnh đó, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ điều trị hiếm muộn, giảm gánh nặng chi phí và đưa tiến bộ y học sinh sản đến gần hơn với người dân đang trở thành một yêu cầu đáng quan tâm.
Tháo gỡ rào cản sinh con trong bối cảnh mức sinh thấp
Mức sinh thấp đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với cơ cấu dân số tại nhiều đô thị lớn. Tại Hà Nội, tổng tỷ suất sinh đã giảm xuống 1,88 con/phụ nữ, thấp hơn mức sinh thay thế 2,1 con. Cùng với đó, xu hướng kết hôn muộn ngày càng rõ nét. Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ năm 2024 cho thấy tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam giới tại Hà Nội là 29,5 tuổi, còn nữ giới là 26,2 tuổi.
| Mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ điều trị hiếm muộn, giảm gánh nặng chi phí và đưa tiến bộ y học sinh sản đến gần hơn với người dân đang trở thành một yêu cầu đáng quan tâm. |
Kết hôn muộn không đồng nghĩa với việc người trẻ không có nhu cầu sinh con. Áp lực việc làm, giá nhà ở, chi phí nuôi dạy con và mong muốn ổn định kinh tế khiến nhiều người trì hoãn hôn nhân và kế hoạch sinh con. Tuy nhiên, khi thời điểm sinh con được đẩy lùi, khả năng sinh sản tự nhiên cũng chịu tác động rõ rệt hơn bởi yếu tố tuổi tác.
Chính ở điểm này, câu chuyện hiếm muộn không còn đơn thuần là vấn đề riêng của một số cặp vợ chồng. Trong bối cảnh mức sinh đang giảm, khả năng giúp những người mong muốn có con nhưng gặp khó khăn về sinh sản tiếp cận dịch vụ y tế phù hợp cần được nhìn nhận như một phần của chính sách dân số và chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Một nghiên cứu cấp Nhà nước của Bộ Y tế công bố đầu năm 2026 từng ghi nhận khoảng 7,7% các cặp vợ chồng tại Việt Nam gặp tình trạng vô sinh cần can thiệp. Chia sẻ tại Hội nghị Sản phụ khoa Quốc tế ngày 28/8, GS-TS.Nguyễn Viết Tiến, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam cho rằng tỷ lệ này hiện có thể còn cao hơn trong bối cảnh tuổi kết hôn gia tăng và nhiều cặp đôi trì hoãn sinh con.
Trong khi nhu cầu điều trị ngày càng lớn, chi phí vẫn là rào cản đáng kể. Một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm hiện có thể tiêu tốn khoảng 70-100 triệu đồng, tùy nguyên nhân và mức độ phức tạp của từng trường hợp. Với nhiều gia đình, đây là khoản chi không nhỏ, nhất là khi việc điều trị có thể phải thực hiện nhiều chu kỳ mới đạt kết quả.
Bởi vậy, hiếm muộn ngày càng được nhìn nhận rộng hơn dưới góc độ y tế công cộng. Tháng 11/2025, Tổ chức Y tế thế giới lần đầu ban hành hướng dẫn về phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị hiếm muộn, đồng thời ước tính khoảng 17,5% người trưởng thành trên thế giới từng trải qua tình trạng này, tương đương khoảng 1 trong 6 người.
Tổ chức Y tế thế giới kêu gọi các quốc gia đưa chăm sóc sức khỏe sinh sản, trong đó có phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị hiếm muộn, vào các chiến lược y tế quốc gia, hướng tới dịch vụ an toàn, công bằng và có khả năng chi trả.
PGS-TS.Vương Thị Ngọc Lan, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược TP.HCM, thành viên ban soạn thảo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới cho rằng việc giải quyết hiếm muộn cần được đặt trong các mục tiêu rộng hơn về bình đẳng giới, bao phủ y tế toàn dân, tiếp cận dịch vụ công bằng, bảo vệ tài chính cho cá nhân và các cặp đôi cũng như quyền được hưởng thành tựu khoa học.
Điều này cho thấy nếu chỉ phát triển các kỹ thuật điều trị hiện đại mà người bệnh không có khả năng tiếp cận thì hiệu quả chính sách vẫn sẽ bị giới hạn.
Trong những năm gần đây, y học sinh sản phát triển nhanh đã mở thêm nhiều cơ hội cho các cặp vợ chồng hiếm muộn. Một số kỹ thuật như “Rescue ICSI”, tức tiêm tinh trùng vào bào tương noãn sau khi quá trình thụ tinh thông thường không diễn ra như kỳ vọng, có thể giúp tận dụng những noãn còn khả năng thụ tinh và tăng cơ hội tạo phôi ở một số trường hợp có chỉ định phù hợp.
Cùng với đó, xét nghiệm di truyền tiền làm tổ như PGT đang được ứng dụng nhằm phát hiện một số bất thường di truyền hoặc nhiễm sắc thể ở phôi trước khi chuyển phôi. Những công nghệ này giúp bác sỹ và người bệnh có thêm dữ liệu để lựa chọn phương án điều trị phù hợp, dù không thể loại bỏ hoàn toàn mọi nguy cơ bệnh lý hay dị tật ở trẻ.
Trí tuệ nhân tạo cũng bắt đầu được ứng dụng trong y học sinh sản, từ hỗ trợ phân tích dữ liệu, sàng lọc, đánh giá phôi đến cá thể hóa một số bước trong quá trình điều trị. Tuy nhiên, các chuyên gia nhấn mạnh công nghệ vẫn phải được đặt trong quy trình chuyên môn và dưới sự đánh giá của bác sỹ, thay vì thay thế quyết định lâm sàng.
Sự xuất hiện ngày càng nhiều công nghệ mới cho thấy năng lực điều trị hiếm muộn đang được cải thiện rõ rệt. Nhưng công nghệ càng phát triển thì bài toán tiếp cận càng trở nên quan trọng.
GS-TS.Nguyễn Viết Tiến cho rằng cần từng bước nghiên cứu chính sách Bảo hiểm y tế hỗ trợ người bệnh hiếm muộn. Nếu chưa thể chi trả toàn bộ những kỹ thuật có chi phí cao như thụ tinh trong ống nghiệm, có thể cân nhắc hỗ trợ trước một số khoản trong quá trình thăm khám, xét nghiệm, siêu âm và các thăm dò cần thiết, sau đó mở rộng theo từng nhóm đối tượng và khả năng của hệ thống.
Đây là một hướng tiếp cận đáng chú ý bởi gánh nặng tài chính không chỉ nằm ở một chu kỳ điều trị mà còn kéo dài từ giai đoạn thăm khám, chẩn đoán đến theo dõi và can thiệp. Việc giảm một phần chi phí ở những bước đầu cũng có thể giúp nhiều người tiếp cận dịch vụ sớm hơn, thay vì trì hoãn đến khi tuổi sinh sản tăng cao và cơ hội điều trị giảm xuống.
Bên cạnh chính sách tài chính, cần tính đến phân tầng dịch vụ điều trị hiếm muộn. Không phải mọi trường hợp đều phải chuyển ngay lên những trung tâm hỗ trợ sinh sản lớn. Nếu tuyến cơ sở được nâng cao năng lực tư vấn, sàng lọc, chẩn đoán ban đầu và thực hiện các can thiệp phù hợp, người bệnh có thể được tiếp cận dịch vụ sớm hơn và giảm chi phí đi lại, điều trị.
Đi khám đại tràng, bất ngờ phát hiện tổn thương tiền ung thư thực quản
Không đau rát, không khó nuốt hay nuốt nghẹn, người đàn ông 64 tuổi bất ngờ được phát hiện tổn thương tiền ung thư thực quản khi đi khám vì bất thường đại tràng. Ca bệnh cho thấy nhiều tổn thương đường tiêu hóa có thể tiến triển mà gần như không có dấu hiệu cảnh báo ở giai đoạn sớm.
Ông N.V.D., 64 tuổi, Hà Nội đến Trung tâm Tiêu hóa, Hệ thống Y tế MEDLATEC khám sau khi xuất hiện tình trạng đi ngoài phân đen, nát trong vài ngày. Ba năm trước, người bệnh từng được phát hiện polyp đại tràng nhưng chưa can thiệp điều trị. Ông cũng đang sử dụng thuốc kiểm soát tăng huyết áp định kỳ.
Điều đáng chú ý là ngoài bất thường đại tiện khiến ông phải đến bệnh viện, người bệnh hoàn toàn không xuất hiện những triệu chứng cảnh báo ở đường tiêu hóa trên như đau rát sau xương ức, khó nuốt, nuốt nghẹn hay nôn ra máu.
Tuy nhiên, thay vì chỉ tập trung tìm nguyên nhân ở đại tràng, các bác sỹ quyết định khảo sát toàn bộ đường tiêu hóa, bao gồm thực quản, dạ dày và đại trực tràng nhằm tránh bỏ sót những tổn thương có thể tồn tại đồng thời.
Chính quá trình kiểm tra này đã phát hiện một bất thường mà trước đó người bệnh không hề biết. Khi nội soi thực quản bằng ánh sáng trắng thông thường, tổn thương có hình thái khá kín đáo, dạng phẳng với sự thay đổi màu sắc nhẹ. Đây cũng là đặc điểm khiến những tổn thương loạn sản độ cao hoặc ung thư biểu mô vảy thực quản giai đoạn sớm có thể dễ bị bỏ qua hoặc nhầm với tình trạng viêm lành tính nếu chỉ quan sát bằng nội soi thông thường.
Các bác sỹ tiếp tục sử dụng nội soi dải tần hẹp NBI phóng đại để khảo sát kỹ hơn. Tại vùng thực quản cách cung răng trên khoảng 28-32 cm xuất hiện một vùng niêm mạc đổi màu dạng phẳng, ranh giới rõ. Đặc điểm hệ thống vi mạch tại đây gợi ý tổn thương mới khu trú ở lớp nông của thành thực quản và chưa có dấu hiệu xâm lấn sâu.
Để làm rõ hơn vùng nghi ngờ, người bệnh được thực hiện nhuộm màu niêm mạc bằng dung dịch Lugol ngay trong quá trình nội soi. Tổn thương không bắt màu như niêm mạc bình thường, giúp bác sỹ xác định rõ hơn ranh giới và lựa chọn vị trí sinh thiết.
Mẫu mô sau đó được gửi làm giải phẫu bệnh. Kết quả xác định người bệnh bị loạn sản biểu mô vảy thực quản độ cao. Các tế bào biểu mô đã xuất hiện những biến đổi bất thường rõ rệt nhưng chưa phá vỡ màng đáy.
Đây được xem là tổn thương tiền ung thư tiến triển, có nguy cơ chuyển thành ung thư xâm nhập nếu không được phát hiện và loại bỏ kịp thời.
Trong cùng lần kiểm tra, nội soi đại trực tràng cũng phát hiện các polyp u tuyến ống. Các bác sỹ đã cắt bỏ polyp qua nội soi và kẹp clip cầm máu cho người bệnh. Sau can thiệp, ông được hướng dẫn theo dõi các dấu hiệu bất thường như xuất huyết, đau bụng và tái khám nội soi đại trực tràng theo lịch phù hợp.
Đối với tổn thương ở thực quản, các bác sỹ chỉ định cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD). Đây là kỹ thuật cho phép bóc tách tổn thương qua đường nội soi trong những trường hợp đáp ứng chỉ định, hạn chế phải thực hiện phẫu thuật lớn và góp phần bảo tồn thực quản cho người bệnh.
Điểm đáng lưu ý của trường hợp này không chỉ nằm ở việc phát hiện đồng thời bất thường tại đại tràng và thực quản, mà còn ở chỗ tổn thương tiền ung thư thực quản hầu như không tạo ra dấu hiệu khiến người bệnh có thể tự nhận biết.
Ở giai đoạn sớm, nhiều tổn thương tiền ung thư và ung thư đường tiêu hóa có biểu hiện rất nghèo nàn. Khi người bệnh bắt đầu xuất hiện những triệu chứng rõ rệt như nuốt nghẹn, đau kéo dài, xuất huyết tiêu hóa, sụt cân không rõ nguyên nhân hoặc thay đổi đại tiện, bệnh có thể đã tiến triển hơn.
Đây cũng là lý do phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm vẫn là một trong những thách thức của y học. Nếu chỉ dựa vào triệu chứng để đi khám, một bộ phận người bệnh có thể bỏ qua giai đoạn mà tổn thương còn khu trú và khả năng can thiệp ít xâm lấn thuận lợi hơn.
Sự phát triển của nội soi tiêu hóa đang góp phần thay đổi khả năng phát hiện những tổn thương này. Bên cạnh nội soi ánh sáng trắng, các kỹ thuật như nội soi dải tần hẹp, phóng đại, nhuộm màu niêm mạc kết hợp giải phẫu bệnh có thể hỗ trợ bác sỹ nhận diện những thay đổi rất nhỏ về cấu trúc niêm mạc và hệ thống mạch máu.
Việc phát hiện sớm còn mở ra khả năng điều trị ít xâm lấn hơn. Với một số tổn thương còn giới hạn ở lớp nông, kỹ thuật nội soi can thiệp có thể giúp loại bỏ tổn thương mà không phải thực hiện những cuộc phẫu thuật lớn. Điều này không chỉ giúp bảo tồn cơ quan mà còn giảm mức độ xâm lấn và gánh nặng điều trị cho người bệnh.
Bỏ thuốc lá nhiều năm vẫn chưa hết nguy cơ ung thư phổi
Bỏ thuốc lá giúp giảm đáng kể nguy cơ ung thư, nhưng không đồng nghĩa nguy cơ biến mất ngay. Trường hợp người đàn ông 70 tuổi phát hiện ung thư phổi sau 10 năm cai thuốc cho thấy nhóm từng hút thuốc lâu năm vẫn cần được theo dõi và tầm soát phù hợp.
Sau 10 năm bỏ thuốc lá, ông Minh, 70 tuổi, từng nghĩ nguy cơ do thuốc lá đã lùi xa. Tuy nhiên, khi xuất hiện tình trạng sụt cân, khạc nhiều đờm và đi khám, kết quả chụp cắt lớp vi tính cho thấy hai nốt bất thường ở phổi phải, lần lượt có kích thước 16x10 mm và 12x10 mm.
Các tổn thương được xếp loại Lung-RADS 4X, mức cảnh báo cao trong hệ thống đánh giá nguy cơ ung thư phổi qua hình ảnh. TS Vũ Hữu Khiêm, chuyên khoa ung bướu cho biết, phân loại này cho thấy tổn thương có nhiều đặc điểm bất thường và nguy cơ ác tính rất cao.
Ông Minh có tiền sử hút thuốc lá trong khoảng 20 năm trước khi bỏ thuốc vào năm 2016. Sau khi hội chẩn, các bác sỹ tiến hành phẫu thuật nội soi, cắt một phần thùy trên phổi phải chứa tổn thương để sinh thiết tức thì.
Khoảng 30 phút sau, kết quả cho thấy cả hai nốt đều là ung thư phổi không tế bào nhỏ xâm nhập. Ê-kíp quyết định tiếp tục cắt toàn bộ thùy trên phổi phải và nạo vét hạch vùng nhằm kiểm soát tổn thương.
Kết quả mô bệnh học và hóa mô miễn dịch sau đó xác định người bệnh mắc ung thư biểu mô tuyến không chế nhầy độ 3 xâm nhập, đã có di căn hạch phế quản. Sau phẫu thuật, ông được chỉ định hóa trị kết hợp thuốc miễn dịch bổ trợ.
Trường hợp này cho thấy bỏ thuốc lá là một quyết định rất quan trọng đối với sức khỏe, nhưng những tổn thương do thuốc lá gây ra có thể tích lũy trong cơ thể trong thời gian dài. Nguy cơ ung thư không biến mất ngay sau khi dừng hút thuốc mà giảm dần theo thời gian.
Các số liệu dịch tễ quốc tế cho thấy người hút thuốc lá có nguy cơ mắc hoặc tử vong do ung thư phổi cao hơn nhiều lần so với người chưa từng hút thuốc. Đây cũng là lý do ung thư phổi vẫn được xem là một trong những bệnh lý liên quan chặt chẽ nhất với thuốc lá.
TS.Vũ Hữu Khiêm cho biết, sau khoảng 5 năm bỏ thuốc, nguy cơ mắc một số ung thư vùng miệng, họng và thanh quản có thể giảm đáng kể khi tình trạng viêm mạn tính và tổn thương mô dần được cải thiện. Sau hơn 10 năm cai thuốc, nguy cơ ung thư phổi có thể giảm khoảng một nửa so với người vẫn tiếp tục hút.
Tuy nhiên, ngay cả sau 20 năm bỏ thuốc, nguy cơ ở người từng hút thuốc lâu năm vẫn có thể cao hơn so với người chưa bao giờ hút thuốc.
Điều này đặc biệt quan trọng với những người có tiền sử hút thuốc kéo dài, hút với số lượng lớn hoặc có thêm các yếu tố nguy cơ khác như tuổi cao, tiếp xúc nghề nghiệp với hóa chất độc hại, ô nhiễm không khí hay tiền sử gia đình có người mắc ung thư phổi.
Thực tế, ung thư phổi ở giai đoạn sớm thường không có triệu chứng đặc hiệu. Người bệnh có thể chỉ ho kéo dài, khạc đờm, mệt mỏi, sút cân hoặc thậm chí không có biểu hiện rõ ràng. Khi các triệu chứng như ho ra máu, khó thở, đau ngực xuất hiện, bệnh có thể đã tiến triển.
Bởi vậy, với những người thuộc nhóm nguy cơ cao, việc tầm soát có ý nghĩa quan trọng trong phát hiện tổn thương sớm, khi cơ hội can thiệp và điều trị còn tốt.
Các chuyên gia khuyến cáo người trên 50 tuổi đang hút thuốc, từng hút thuốc trong nhiều năm hoặc mới bỏ thuốc trong khoảng 15 năm nên trao đổi với bác sỹ để được đánh giá nguy cơ và tư vấn phương án tầm soát ung thư phổi phù hợp.
Khi phát hiện tổn thương bất thường trên phim chụp, người bệnh có thể được chỉ định thêm các xét nghiệm, kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hoặc sinh thiết để xác định bản chất tổn thương.