Y tế - Sức khỏe
Đầu tư cho dân số từ sớm trước sức ép mức sinh thấp và già hóa nhanh
D.Ngân - 09/08/2026 10:09
Mức sinh giảm xuống dưới mức thay thế, Việt Nam dự kiến trở thành quốc gia “dân số già” vào năm 2034, trong khi những thách thức về chất lượng dân số và mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn hiện hữu.

Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn chuyển đổi dân số đặc biệt quan trọng, khi hai xu hướng tưởng như trái chiều lại diễn ra đồng thời: số trẻ được sinh ra ngày càng ít, trong khi số người cao tuổi ngày một gia tăng.

Những thay đổi này không chỉ tác động đến quy mô, cơ cấu dân số mà còn đặt ra những bài toán lâu dài đối với nguồn nhân lực, thị trường lao động, hệ thống y tế, an sinh xã hội và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong nhiều thập kỷ tới.

Sức ép của già hóa dân số càng cho thấy yêu cầu phải hành động sớm. 

Cục trưởng Cục Dân số (Bộ Y tế) Lê Thanh Dũng nhận định, Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức mang tính chiến lược về dân số, trong đó đáng chú ý nhất là mức sinh đã giảm xuống dưới mức sinh thay thế, từ 2,11 con/phụ nữ năm 2021 xuống còn 1,91 con năm 2024 và 1,93 con năm 2025.

Nếu xu hướng này kéo dài, hệ quả sẽ không chỉ là ít trẻ em được sinh ra trong hiện tại mà còn có thể dẫn tới thiếu hụt nguồn nhân lực, suy giảm quy mô dân số trong tương lai và đồng thời thúc đẩy quá trình già hóa diễn ra nhanh hơn.

Trong khi mức sinh giảm, Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và dự kiến trở thành quốc gia “dân số già” vào năm 2034. Quá trình chuyển đổi diễn ra trong khoảng thời gian tương đối ngắn tạo ra sức ép rất lớn đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội, thị trường lao động cũng như mạng lưới dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi tại gia đình và cộng đồng.

Bên cạnh những thay đổi về số lượng và cơ cấu dân số, chất lượng dân số vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh còn ở mức cao, trong khi tỷ lệ tầm soát trước sinh, sơ sinh ở nhiều địa phương vẫn thấp.

Những vấn đề này đều có tính chất dài hạn, liên quan chặt chẽ với nhau và rất khó tạo ra chuyển biến nếu chỉ được xử lý bằng những dự án riêng lẻ hoặc nguồn lực thường xuyên.

Đây cũng là lý do Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển được kỳ vọng tạo ra một cơ chế thống nhất trong huy động, phân bổ nguồn lực từ Trung ương đến địa phương, qua đó triển khai đồng bộ các giải pháp về chính sách, truyền thông, cung cấp dịch vụ và đầu tư.

Một thay đổi quan trọng trong cách tiếp cận hiện nay là công tác dân số không còn được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ kế hoạch hóa gia đình hay kiểm soát số con, mà chuyển sang tư duy “dân số và phát triển”, trong đó con người được đặt ở vị trí trung tâm và đầu tư cho con người được coi là đầu tư cho phát triển bền vững.

Điều đó có nghĩa chính sách dân số phải bắt đầu trước cả khi một đứa trẻ được sinh ra và tiếp tục xuyên suốt các giai đoạn của cuộc đời.

Ngay từ tuổi vị thành niên, thanh niên cần được trang bị kiến thức, kỹ năng về sức khỏe sinh sản và dự phòng vô sinh; nam, nữ thanh niên được khuyến khích, hỗ trợ kết hôn và sinh con phù hợp. Trước khi bước vào hôn nhân, các cặp đôi cần có cơ hội được tư vấn, khám sức khỏe để phát hiện sớm những vấn đề có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, thai kỳ hoặc sức khỏe của thế hệ sau.

Khi mang thai, người mẹ và thai nhi cần được chăm sóc, theo dõi, thực hiện sàng lọc trước sinh; sau khi trẻ chào đời, sàng lọc sơ sinh giúp phát hiện sớm nhiều bệnh lý, dị tật hoặc rối loạn có thể can thiệp, qua đó tạo cho trẻ một khởi đầu tốt hơn.

Quá trình đầu tư cho con người tiếp tục kéo dài qua chăm sóc sức khỏe sinh sản ở tuổi vị thành niên, thanh niên, nâng cao thể lực, trí lực và sức khỏe tinh thần ở độ tuổi lao động, trước khi chuyển sang quản lý bệnh mạn tính, phục hồi chức năng và chăm sóc dài hạn khi bước vào tuổi già.

Cục trưởng Lê Thanh Dũng cho rằng cách tiếp cận này cho phép đầu tư từ sớm, từ xa và xuyên suốt vòng đời, không chỉ nâng cao chất lượng dân số mà còn giúp Việt Nam chủ động thích ứng với những thay đổi về cơ cấu dân số và giảm gánh nặng cho hệ thống y tế, an sinh xã hội trong tương lai.

Một điểm mới đáng chú ý là tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn lần đầu tiên được đưa trở thành một chỉ tiêu quốc gia. Khám sức khỏe tiền hôn nhân không đơn thuần là kiểm tra tình trạng sức khỏe của hai người trước khi lập gia đình, mà còn có ý nghĩa phát hiện, phòng ngừa và hướng dẫn điều trị những bệnh lý có khả năng ảnh hưởng đến mang thai, sinh nở, sức khỏe sinh sản và quá trình nuôi dạy con, đồng thời góp phần giảm nguy cơ trẻ sinh ra mắc bệnh, tật bẩm sinh.

Phát hiện sớm bệnh truyền nhiễm, bệnh di truyền hay những bất thường về sức khỏe sinh sản giúp các cặp đôi có điều kiện chuẩn bị tốt hơn trước hôn nhân và sinh con, từ đó xây dựng nền tảng cho một gia đình khỏe mạnh.

Ở tầm nhìn dài hơn, những đứa trẻ được sinh ra khỏe mạnh, phát triển tốt về thể chất và tinh thần chính là nền móng hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai. Đây cũng là sự cụ thể hóa Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 và tư duy “dân số và phát triển”, trong đó nâng cao chất lượng dân số trở thành mục tiêu xuyên suốt thay vì chỉ tập trung vào quy mô dân số.

Sự thay đổi trong tư duy chính sách càng có ý nghĩa khi Luật Dân số đã có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, tạo hành lang pháp lý thống nhất để giải quyết đồng thời các vấn đề từ mức sinh thấp, già hóa dân số, mất cân bằng giới tính khi sinh đến nâng cao chất lượng dân số.

Nếu Luật Dân số xác lập khuôn khổ chính sách thì Chương trình mục tiêu quốc gia có vai trò bảo đảm nguồn lực, cơ chế và những giải pháp cụ thể để chính sách được đưa vào cuộc sống, qua đó tạo điều kiện triển khai thống nhất các nhiệm vụ dân số trên phạm vi cả nước.

Khi được thực hiện hiệu quả, người dân sẽ là đối tượng hưởng lợi trực tiếp, từ quản lý và chăm sóc sức khỏe ban đầu ngay tại cơ sở, phòng bệnh từ sớm, từ xa đến khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dân số trong suốt vòng đời.

Đồng thời, những mục tiêu như gia tăng tỷ lệ sinh, duy trì mức sinh thay thế, từng bước đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên, chủ động thích ứng với già hóa dân số và tăng cường chăm sóc các nhóm dễ bị tổn thương sẽ góp phần bảo đảm nguồn nhân lực, nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của người dân.

Ở tầm quốc gia, đầu tư cho dân số vì thế không chỉ là khoản chi cho y tế hay an sinh, mà là một khoản đầu tư dài hạn cho năng lực phát triển của đất nước.

Sức ép của già hóa dân số càng cho thấy yêu cầu phải hành động sớm. Năm 2024, người cao tuổi đã chiếm khoảng 14% dân số Việt Nam và dự báo tăng lên 16,66% vào năm 2029, khoảng 20,2% vào năm 2039. Với tốc độ này, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia già hóa dân số nhanh nhất thế giới.

Tuổi thọ tăng là một thành tựu quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội và chăm sóc sức khỏe, nhưng sống lâu hơn cũng đặt ra câu hỏi quan trọng hơn là người dân sẽ sống khỏe mạnh bao nhiêu năm trong quãng đời kéo dài đó.

Khi số người cao tuổi gia tăng nhanh, hệ thống an sinh xã hội, lao động, việc làm và đặc biệt là y tế phải thích ứng với nhu cầu chăm sóc ngày càng lớn, trong đó mô hình chỉ tập trung điều trị bệnh khi người cao tuổi nhập viện sẽ không còn phù hợp.

Định hướng mới vì thế hướng tới chăm sóc toàn diện, từ chăm sóc sức khỏe ban đầu, quản lý bệnh mạn tính, phục hồi chức năng đến chăm sóc dài hạn tại gia đình và cộng đồng, giúp người cao tuổi được theo dõi sức khỏe thường xuyên, tiếp cận dịch vụ ngay tại nơi sinh sống khi có nhu cầu và kéo dài số năm sống khỏe mạnh.

Khi người cao tuổi có thể sống khỏe, sống độc lập lâu hơn, lợi ích không chỉ thuộc về bản thân họ mà còn giúp giảm gánh nặng chăm sóc cho gia đình, giảm áp lực đối với bệnh viện và hệ thống an sinh, đồng thời tạo điều kiện để tiếp tục phát huy kinh nghiệm, trí tuệ và vai trò của người cao tuổi trong gia đình, cộng đồng.

Trong bức tranh dân số chung của cả nước, Hà Nội là địa phương có nhiều yếu tố đặc thù khi vừa là đô thị có quy mô dân số lớn, vừa phải đối mặt với mức sinh thấp, đặc biệt tại khu vực nội thành, quá trình già hóa diễn ra nhanh và tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn là một thách thức.

Điều này đòi hỏi chính sách dân số của Thủ đô không thể chỉ tập trung vào một mục tiêu riêng lẻ mà cần giải quyết đồng thời bài toán duy trì mức sinh, nâng cao chất lượng dân số và thích ứng với già hóa.

Hà Nội cần triển khai các giải pháp để đạt và duy trì mức sinh thay thế, đồng thời mở rộng tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân, sàng lọc trước sinh, sơ sinh, nâng cao thể lực, tầm vóc, chất lượng nguồn nhân lực và phát triển hệ thống chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

Luật Thủ đô đã trao cho Hà Nội những cơ chế đặc thù để chủ động ban hành, thí điểm các chính sách mới trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội, qua đó mở ra dư địa để thành phố hỗ trợ khám, chữa bệnh, khám sức khỏe định kỳ, phát triển y tế từ xa, ứng dụng công nghệ số cũng như mở rộng các chính sách dành cho nhóm yếu thế.

Cục trưởng Cục Dân số Lê Thanh Dũng cho rằng Hà Nội cần tập trung vào ba nhóm giải pháp trọng tâm, gồm khuyến khích sinh con nhằm đạt và duy trì mức sinh thay thế, nhất là tại khu vực nội đô; phát triển hệ thống chăm sóc người cao tuổi tại gia đình và cộng đồng; đồng thời nâng cao chất lượng dân số thông qua tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân, sàng lọc trước sinh, sơ sinh và lồng ghép các yếu tố dân số vào quy hoạch, phát triển đô thị.

Với những cơ chế đặc thù đã được trao, Hà Nội có cơ hội biến những thách thức dân số thành động lực đổi mới, trở thành địa phương tiên phong về chính sách dân số đô thị và từ đó hình thành những mô hình có thể tham khảo cho nhiều địa phương khác.

Mức sinh giảm và già hóa dân số đều là những quá trình diễn ra trong nhiều năm, nhưng khi hệ quả đã thể hiện rõ thì khả năng đảo chiều thường không dễ dàng. Bởi vậy, đầu tư cho dân số không thể chờ đến khi thiếu hụt lao động mới khuyến khích sinh con, cũng không thể đợi đến khi số người cao tuổi tăng mạnh mới xây dựng hệ thống chăm sóc.

Từ khám sức khỏe trước hôn nhân, chăm sóc thai kỳ, sàng lọc trước sinh và sơ sinh đến phát triển thể chất, sức khỏe sinh sản, quản lý bệnh mạn tính và chăm sóc tuổi già, đầu tư xuyên suốt vòng đời chính là cách chuẩn bị từ hôm nay cho một xã hội trong đó mỗi người không chỉ sống lâu hơn mà còn khỏe mạnh hơn, đồng thời bảo đảm đất nước có đủ nguồn nhân lực và chất lượng dân số để phát triển trong những thập kỷ tới.

Tin liên quan
Tin khác