Y tế - Sức khỏe
Phát triển thể lực, trí lực trẻ em Việt từ nền tảng dinh dưỡng
D.Ngân - 27/08/2026 06:36
Một bữa ăn đa dạng, đủ chất, bổ sung vi chất hợp lý và thói quen ăn uống lành mạnh có thể tạo nên khác biệt lớn cho sự phát triển của trẻ. Đó cũng là nền móng để nâng cao tầm vóc, thể lực, trí tuệ và giảm nguy cơ bệnh tật khi trưởng thành.

Dinh dưỡng mở thêm dư địa cải thiện tầm vóc

Trẻ em Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức dinh dưỡng cùng lúc, bởi trong khi suy dinh dưỡng và thiếu vi chất vẫn tồn tại, nhất là ở những khu vực khó khăn, thừa cân, béo phì lại gia tăng nhanh tại thành phố, thị trấn. Hai thái cực tưởng như đối lập đang cùng hiện diện, cho thấy bài toán dinh dưỡng trẻ em ngày nay không còn đơn giản là làm sao để trẻ “ăn đủ” hay tăng cân, mà quan trọng hơn là ăn như thế nào để phát triển cân đối cả thể chất, tầm vóc và trí lực.

Tại Hội thảo khoa học “Tầm quan trọng của vi chất dinh dưỡng với trẻ em” do Hội Y học dự phòng Việt Nam phối hợp với Doppelherz Việt Nam tổ chức, PGS-TS.Trần Thanh Dương, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết, những số liệu về tình trạng vi chất cho thấy khoảng trống dinh dưỡng ở trẻ em vẫn đáng lưu ý.

Một bữa ăn đa dạng, đủ chất, bổ sung vi chất hợp lý và thói quen ăn uống lành mạnh có thể tạo nên khác biệt lớn cho sự phát triển của trẻ.

Ở nhóm trẻ từ 6-59 tháng tuổi, tỷ lệ thiếu máu tại Việt Nam năm 2020 là 18,1%, dù đã giảm đáng kể so với mức 27,8% năm 2015. Tình trạng thiếu vitamin A tiền lâm sàng ở trẻ cùng nhóm tuổi giai đoạn 2019-2020 được ghi nhận ở mức 8,9%.

Đáng chú ý, 53,3% trẻ từ 6-59 tháng tuổi được ghi nhận có nồng độ kẽm huyết thanh thấp trong giai đoạn 2019-2020. Với i-ốt, chỉ khoảng 27% hộ gia đình sử dụng muối đạt tiêu chuẩn i-ốt; khoảng 21% trẻ dưới 6 tuổi có nồng độ vitamin D dưới 30 nmol/L.

Những con số này cho thấy một thực tế đáng lưu ý: trẻ ăn đủ về lượng chưa chắc đã được cung cấp đầy đủ các chất cần thiết cho quá trình tăng trưởng. Thiếu vi chất có thể không dễ nhận biết như tình trạng thiếu năng lượng rõ rệt, nhưng lại đặt ra vấn đề về chất lượng khẩu phần và khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển của cơ thể.

Ở chiều ngược lại, thừa cân, béo phì đang gia tăng nhanh, đặc biệt ở nhóm trẻ từ 5-19 tuổi tại các thành phố, thị trấn. Điều này tạo nên một nghịch lý dinh dưỡng, có trẻ thiếu năng lượng, thấp còi hoặc thiếu vi chất, trong khi một bộ phận khác dư thừa năng lượng nhưng chưa chắc có một khẩu phần thực sự cân đối.

Suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi vẫn là vấn đề đáng quan tâm tại các vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn đặc biệt khó khăn; trong khi thừa cân, béo phì gia tăng ở khu vực đô thị hóa. Song song với đó là tình trạng thiếu vitamin A, sắt, kẽm, i-ốt, vitamin D và các vi chất khác.

Thực tế này đặt ra yêu cầu phải chuyển từ tư duy “ăn no” sang “ăn đúng và ăn đủ chất”. Một trẻ thấp còi, thiếu cân không thể áp dụng cùng chế độ dinh dưỡng với trẻ thừa cân, béo phì. Tương tự, trẻ ở vùng khó khăn có thể đối diện với việc thiếu thực phẩm đa dạng, trong khi trẻ thành thị lại dễ tiếp cận các loại thực phẩm giàu năng lượng nhưng nghèo giá trị dinh dưỡng.

Không chỉ liên quan đến cân nặng, dinh dưỡng còn là một trong những yếu tố quan trọng quyết định khả năng phát triển chiều cao và thể lực của trẻ. Theo TS.Trương Hồng Sơn, Phó Tổng Thư ký Tổng hội Y học Việt Nam, Viện trưởng Viện Y học Ứng dụng Việt Nam, chiều cao của người Việt đã được cải thiện đáng kể trong nhiều thập kỷ qua, song vẫn còn khoảng cách so với nhiều quốc gia.

Số liệu được trình bày tại hội thảo cho thấy, năm 2026, chiều cao người Việt đứng thứ 150 đối với nam và thứ 143 đối với nữ trong 195 quốc gia, xếp thứ tư tại Đông Nam Á. Trong 45 năm, từ năm 1975 đến năm 2020, chiều cao nam giới Việt Nam tăng 8,1 cm, trong khi nữ giới tăng 6,2 cm.

Chiều cao là đặc điểm đa gene và có tính di truyền cao. Tài liệu được trình bày cho thấy khoảng 60-80% sự khác biệt về chiều cao được quy định bởi gene, trong khi khoảng 20-40% còn lại chịu tác động của các yếu tố môi trường, đặc biệt là dinh dưỡng.

Điều đó có nghĩa yếu tố di truyền tạo nên tiềm năng, nhưng dinh dưỡng và môi trường sống có vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ phát huy tiềm năng tăng trưởng của mình. Đây cũng chính là phần có thể tác động thông qua chất lượng bữa ăn, vận động, giấc ngủ và chăm sóc sức khỏe.

Quá trình tăng trưởng chiều cao còn chịu ảnh hưởng của giới tính, bệnh tật, vận động và giấc ngủ. Trẻ gái thường bước vào giai đoạn bứt phá chiều cao sớm hơn trẻ trai, trong khi trẻ trai có giai đoạn tăng trưởng kéo dài hơn và tốc độ tăng trưởng nhanh hơn. Bệnh tật cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển.

Bởi vậy, nâng cao tầm vóc trẻ em không thể trông chờ vào một loại thực phẩm hay một vi chất riêng lẻ, mà cần được nhìn nhận như kết quả của cả một quá trình chăm sóc dinh dưỡng và lối sống.

TS.Trương Hồng Sơn khuyến cáo trẻ cần được bảo đảm ba bữa chính, có thể bổ sung bữa phụ và ăn đa dạng thực phẩm, đủ các nhóm thực phẩm thiết yếu. Khẩu phần cần đáp ứng nhu cầu protein, canxi, vitamin D, vitamin K2, sắt, kẽm và những khoáng chất cần thiết khác.

Đồng thời, cần hạn chế đồ ăn nhanh, nước ngọt có gas và thực phẩm nhiều đường. Bên cạnh chế độ ăn, vận động và giấc ngủ cũng là những yếu tố cần được chú trọng trong quá trình phát triển của trẻ.

Vai trò của các vi chất như canxi, sắt, kẽm, magie, vitamin D3 và vitamin K2 cũng được các chuyên gia nhấn mạnh khi đề cập đến phát triển chiều cao. Tuy nhiên, bổ sung vi chất không nên được hiểu đơn giản là trẻ thiếu chất nào thì tự bổ sung thật nhiều chất đó.

“Khi trẻ thiếu nhiều vi chất, việc chỉ bổ sung đơn lẻ một vi chất thường kém hiệu quả hơn. Vì vậy, cần đánh giá tình trạng dinh dưỡng và có can thiệp đồng bộ theo mạng lưới hiệp đồng của các vi chất”, TS.Trương Hồng Sơn lưu ý.

Từ những khoảng trống về vi chất đến thách thức thừa cân, béo phì cho thấy điểm xuất phát để nâng cao thể lực và trí lực trẻ em Việt vẫn nằm ở chất lượng bữa ăn hằng ngày. Một bữa ăn hợp lý không đơn thuần là có cơm, thịt hay sữa, mà cần đa dạng nguồn thực phẩm để cung cấp cân đối protein, lipid, glucid, vitamin và khoáng chất. Không có một loại thực phẩm riêng lẻ nào có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu dinh dưỡng của trẻ, vì vậy sự đa dạng của khẩu phần có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Nguồn thực phẩm giàu protein tham gia xây dựng cơ bắp và các mô; chất béo cần thiết cho quá trình phát triển và hấp thu một số vitamin; rau, quả cung cấp vitamin, khoáng chất và chất xơ. Việc thay đổi thực phẩm phù hợp theo ngày và theo lứa tuổi giúp bữa ăn không chỉ cung cấp đủ năng lượng mà còn nâng cao chất lượng dinh dưỡng.

Cùng với đó, tình trạng thiếu kẽm, thiếu máu, thiếu vitamin A, i-ốt hay vitamin D cho thấy cần quan tâm nhiều hơn tới “chất lượng bên trong” của khẩu phần. Khoảng trống này cần được giải quyết thông qua cải thiện bữa ăn, sử dụng thực phẩm giàu vi chất và bổ sung vi chất phù hợp theo hướng dẫn chuyên môn.

Điều đáng lưu ý là cho trẻ ăn nhiều hơn không đồng nghĩa với dinh dưỡng tốt hơn. Một khẩu phần dư thừa năng lượng nhưng nghèo vitamin và khoáng chất vẫn có thể khiến trẻ thừa cân trong khi cơ thể thiếu những vi chất cần thiết. Vì vậy, mục tiêu không phải là đưa thật nhiều năng lượng vào bữa ăn, mà là nâng cao chất lượng dinh dưỡng của khẩu phần.

Đầu tư cho dinh dưỡng là đầu tư cho một thế hệ

Các chuyên gia cũng khuyến nghị sử dụng hằng ngày các thực phẩm giàu vi chất, đa dạng rau, củ, quả; bổ sung hợp lý vi chất cho trẻ theo hướng dẫn chuyên môn và bảo đảm sự cân đối giữa protein, lipid và glucid phù hợp với thể trạng cũng như khuyến nghị dinh dưỡng của Việt Nam.

Quan trọng không kém là hình thành thói quen ăn uống từ nhỏ. Những lựa chọn thực phẩm trong những năm đầu đời có thể ảnh hưởng tới hành vi dinh dưỡng trong nhiều năm tiếp theo. Trẻ quen với bữa ăn đa dạng, rau, quả, thực phẩm lành mạnh và được kiểm soát lượng đường, muối, năng lượng sẽ có nền tảng thuận lợi hơn để duy trì lối sống tốt khi trưởng thành.

Điều này càng có ý nghĩa khi các yếu tố nguy cơ liên quan đến dinh dưỡng đã hiện diện khá phổ biến trong cộng đồng. Dữ liệu trong tài liệu cho thấy hơn 60% người trưởng thành tiêu thụ rau quả dưới 400 gram mỗi ngày, lượng muối tiêu thụ trên 9 gram và hơn 30% ít vận động.

Gánh nặng bệnh không lây nhiễm ở người trưởng thành cũng cho thấy hậu quả lâu dài của những yếu tố nguy cơ liên quan đến dinh dưỡng và lối sống. Năm 2025, tỷ lệ rối loạn lipid máu ở người trưởng thành được ghi nhận khoảng 49%; khoảng 31% tăng cholesterol toàn phần, 38% tăng triglycerid, 21% tăng LDL-C và 23% giảm HDL-C. Việt Nam có khoảng 12 triệu người tăng huyết áp, tương đương khoảng 20-25% người trưởng thành.

Tỷ lệ người trưởng thành tăng glucose máu hoặc đang điều trị đái tháo đường năm 2021 đã tăng khoảng 1,7 lần, từ 4,1% lên 7,1%; riêng nhóm tuổi 50-69 tăng từ 7,7% lên 13,4%. Tỷ lệ hội chứng chuyển hóa được ghi nhận tăng từ 16,1% năm 2022 lên 21,8% năm 2025.

Nhìn từ những con số này, xây dựng thói quen dinh dưỡng lành mạnh cho trẻ hôm nay không chỉ nhằm giải quyết chiều cao, cân nặng trước mắt, mà còn là một phần của dự phòng bệnh tật trong tương lai.

Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2021-2030 xác định bảo đảm dinh dưỡng hợp lý nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng phù hợp với từng đối tượng, địa phương, vùng, miền, dân tộc; góp phần giảm gánh nặng bệnh tật, nâng cao tầm vóc, thể lực và trí tuệ của người Việt Nam.

Các mục tiêu không chỉ tập trung cải thiện dinh dưỡng bà mẹ, trẻ em và thanh thiếu niên mà còn hướng tới thực hiện chế độ ăn đa dạng, hợp lý; kiểm soát thừa cân, béo phì; dự phòng các bệnh mạn tính không lây và cải thiện tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng.

Để đạt được những mục tiêu này, dinh dưỡng cần được nhìn nhận là vấn đề xuyên suốt vòng đời và đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể. Gia đình là nơi hình thành bữa ăn và thói quen đầu tiên; trường học có vai trò củng cố hành vi ăn uống, vận động lành mạnh; ngành y tế theo dõi, phát hiện nguy cơ, tư vấn và triển khai các can thiệp, trong khi chính sách thực phẩm và truyền thông góp phần tạo ra môi trường thuận lợi để người dân lựa chọn thực phẩm tốt hơn.

Chiến lược cũng đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp liên ngành, huy động sự tham gia của toàn xã hội, đẩy mạnh truyền thông, giáo dục dinh dưỡng, củng cố nguồn nhân lực và nâng cao năng lực triển khai các can thiệp. Nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản lý, giám sát, tư vấn và thống kê dinh dưỡng cũng là những giải pháp được đặt ra.

Ở mỗi gia đình, thay đổi có thể bắt đầu từ những việc rất gần gũi là không chỉ quan tâm trẻ đã ăn no hay chưa mà chú ý bữa ăn có đủ và đa dạng hay không; lựa chọn thực phẩm dựa trên giá trị dinh dưỡng thay vì chỉ chiều theo khẩu vị; tạo thói quen ăn rau, quả; bảo đảm các nguồn vitamin, khoáng chất cần thiết; hạn chế đồ ăn nhanh, nước ngọt và thực phẩm nhiều đường; đồng thời tạo điều kiện cho trẻ vận động và ngủ đủ.

Tin liên quan
Tin khác