Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm thế giới ghi nhận khoảng 600 triệu ca mắc bệnh do thực phẩm không an toàn, trong đó 420.000 ca tử vong.
Trẻ em dưới 5 tuổi chiếm tới gần 30% số ca tử vong dù chỉ chiếm khoảng 9% dân số toàn cầu. Các bệnh truyền qua thực phẩm không chỉ gây ngộ độc cấp tính mà còn liên quan tới ung thư, bệnh gan, thận và rối loạn miễn dịch do tồn dư hóa chất, kim loại nặng hoặc vi sinh vật gây bệnh.
| Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 đặt trọng tâm vào công bố, đăng ký sản phẩm và tăng cường kiểm tra nhà nước theo hướng chuẩn hóa, đồng bộ. Vấn đề then chốt nằm ở khâu thực thi. |
Các nghiên cứu dịch tễ học chỉ ra rằng việc tăng cường kiểm nghiệm, hậu kiểm theo mô hình quản lý rủi ro giúp giảm đáng kể tỷ lệ ngộ độc thực phẩm quy mô lớn. Cơ chế tiền kiểm nặng nề, nếu thiếu phân loại rủi ro, thường tạo gánh nặng thủ tục nhưng không nhất thiết nâng cao hiệu quả bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Chính vì vậy, Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 đặt trọng tâm vào công bố, đăng ký sản phẩm và tăng cường kiểm tra nhà nước theo hướng chuẩn hóa, đồng bộ. Vấn đề then chốt nằm ở khâu thực thi.
Chỉ còn hơn một tháng trước khi Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 16/4/2026, Bộ Y tế đã có văn bản số 1222/BYT-ATTP gửi UBND các tỉnh, thành phố yêu cầu khẩn trương chuẩn bị đầy đủ điều kiện triển khai, bảo đảm vừa siết chặt quản lý an toàn thực phẩm, vừa không làm gián đoạn hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.
Hai văn bản quan trọng này quy định chi tiết thi hành Luật An toàn thực phẩm và cơ chế công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm. Tuy nhiên, để các địa phương có thêm thời gian chuẩn bị nguồn lực, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 09/2026/NQ-CP tạm ngưng hiệu lực đến hết ngày 15/4/2026. Khoảng “đệm” này không phải để chờ đợi, mà để sẵn sàng.
Bộ Y tế đề nghị các địa phương khẩn trương giao nhiệm vụ cho cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thực hiện kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm và chỉ định cơ sở kiểm nghiệm phục vụ quản lý. Việc phân công phải đáp ứng thực tế địa phương, đặc biệt với hoạt động kiểm tra thực phẩm nhập khẩu.
Các địa phương phải công khai thông tin về cơ quan kiểm tra và cơ sở kiểm nghiệm trên cổng thông tin điện tử, bảo đảm minh bạch và thuận lợi cho doanh nghiệp tra cứu.
Bộ Y tế đã công bố danh sách 6 cơ quan kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu và 27 cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định ở cấp trung ương.
Tinh thần triển khai được quán triệt theo nguyên tắc “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả. Điều này nhằm tránh tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm hoặc ách tắc thủ tục khi văn bản chính thức có hiệu lực.
Một điểm đáng chú ý là Bộ Y tế yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố chủ động áp dụng biện pháp cần thiết để hỗ trợ doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục kiểm tra nhà nước, đặc biệt với hàng hóa xuất nhập khẩu có nguy cơ ùn ứ tại cửa khẩu.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy mô hình kiểm tra dựa trên đánh giá rủi ro, kết hợp công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn và áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ giúp rút ngắn thời gian thông quan mà vẫn duy trì mức độ an toàn cao.
Tổ chức Thương mại Thế giới trong Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật cũng khuyến nghị các quốc gia áp dụng nguyên tắc dựa trên bằng chứng khoa học và tránh tạo rào cản thương mại không cần thiết.
Các lực lượng chức năng tại cửa khẩu phải phối hợp chặt chẽ để giải đáp, tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp, bảo đảm thông quan nhanh nhất có thể, đồng thời không để xảy ra tiêu cực trong quá trình thực hiện. Đây là yêu cầu quan trọng trong bối cảnh an toàn thực phẩm cần được kiểm soát chặt nhưng không thể trở thành rào cản hành chính gây đình trệ thương mại.
Các địa phương cũng phải ban hành, tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính theo đúng thẩm quyền được quy định trong Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13, đồng thời kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ sở kiểm nghiệm, tổ chức thử nghiệm và các đơn vị chứng nhận hệ thống quản lý an toàn thực phẩm như HACCP, ISO/IEC 17025, IFS, BRC, FSSC.
Về bản chất, Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 hướng tới chuẩn hóa quy trình công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm và tăng cường hậu kiểm theo nguyên tắc quản lý rủi ro.
Tuy nhiên, nếu triển khai thiếu đồng bộ, nguy cơ phát sinh thủ tục trùng lặp, kéo dài thời gian xử lý hồ sơ hoặc quá tải kiểm nghiệm là điều có thể xảy ra.
Do đó, yêu cầu đặt ra cho địa phương không chỉ là “thực hiện đúng” mà còn phải “thực hiện thông suốt”. Kiểm tra chặt nhưng không cản trở lưu thông hàng hóa. Tăng cường hậu kiểm nhưng giảm tối đa chi phí tuân thủ không cần thiết. Công khai danh sách, đầu mối, quy trình để doanh nghiệp không phải dò tìm thông tin qua nhiều tầng nấc.
Bộ Y tế cũng đề nghị các địa phương khi gặp khó khăn, vướng mắc phải kịp thời báo cáo các bộ quản lý chuyên ngành như Bộ Y tế, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính để được hướng dẫn cụ thể, đồng thời tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.