Đời sống
Tạo đột phá nguồn nhân lực chất lượng cao từ giáo dục đại học
D.Ngân - 02/09/2026 09:46
Nhu cầu hàng chục nghìn kỹ sư bán dẫn, chuyên gia trí tuệ nhân tạo cùng nhân lực trình độ cao trong y tế, công nghệ và những ngành chiến lược đang đặt giáo dục đại học trước một bài toán mới.

Đầu tư cho năng lực thay vì chạy theo số lượng

Cuộc đua công nghệ đang làm thay đổi rất nhanh bản đồ nhân lực toàn cầu. Trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng, y tế công nghệ cao... không chỉ mở ra những ngành nghề mới mà còn đặt ra yêu cầu hoàn toàn khác đối với chất lượng người lao động.

Việt Nam có thể mua thiết bị, nhập khẩu dây chuyền, tiếp nhận công nghệ, nhưng khả năng vận hành, cải tiến và tiến tới làm chủ những công nghệ ấy cuối cùng vẫn phụ thuộc vào con người.

Cuộc đua công nghệ đang làm thay đổi rất nhanh bản đồ nhân lực toàn cầu. 

Bởi vậy, câu chuyện phát triển nhân lực chất lượng cao ngày càng gắn trực tiếp với một câu hỏi lớn hơn là đầu tư cho đại học như thế nào để các trường thực sự có khả năng đào tạo những kỹ sư, nhà khoa học, chuyên gia và tổng công trình sư mà nền kinh tế cần?

Nhìn vào nhu cầu nhân lực của một số ngành chiến lược, sức ép đã hiện hữu khá rõ. GS-TS.Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, ước tính đến năm 2030, Việt Nam cần khoảng 50.000 nhân lực bán dẫn và 10.000 chuyên gia trí tuệ nhân tạo trình độ cao. Trong khi đó, nguồn tuyển đang có những chuyển biến tích cực khi trong khoảng 633.000 sinh viên dự kiến nhập học năm 2026, khối STEM chiếm 33,6%.

Con số này cho thấy sự dịch chuyển đáng chú ý trong lựa chọn ngành nghề của người trẻ, nhưng nguồn tuyển tốt mới chỉ tạo ra điểm khởi đầu. Từ một sinh viên có năng lực trở thành kỹ sư giỏi, nhà nghiên cứu hay chuyên gia công nghệ trình độ cao là một hành trình dài, đòi hỏi chương trình đào tạo tốt, giảng viên giỏi, phòng thí nghiệm hiện đại, môi trường nghiên cứu đủ mạnh và đặc biệt là cơ hội giải quyết những bài toán thực tế ngay trong quá trình học.

Trong khi đó, những điều kiện quan trọng ấy vẫn là điểm nghẽn tại không ít cơ sở đào tạo. GS-TS.Lê Anh Tuấn chỉ ra tình trạng thiếu giảng viên và chuyên gia hàng đầu, phòng thí nghiệm chưa đáp ứng yêu cầu, hạ tầng tính toán còn manh mún, chương trình đào tạo có nơi chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghệ. Khoảng cách giữa nhà trường và thị trường lao động cũng chưa được thu hẹp như kỳ vọng khi doanh nghiệp cần người nhưng một bộ phận sinh viên mới tốt nghiệp lại thiếu trải nghiệm thực tế.

Bài toán tương tự cũng xuất hiện ở những lĩnh vực đòi hỏi chi phí đào tạo đặc biệt lớn như y khoa. Để đào tạo một bác sỹ giỏi, giảng đường chỉ là một phần của quá trình. Chất lượng đào tạo còn phụ thuộc vào bệnh viện thực hành, đội ngũ chuyên gia, trang thiết bị, hệ thống mô phỏng, phòng thí nghiệm và môi trường lâm sàng.

Với bán dẫn, trí tuệ nhân tạo hay các công nghệ chiến lược, yêu cầu đầu tư lại tập trung vào hạ tầng tính toán, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, chuyên gia trình độ cao và khả năng tiếp cận những công nghệ đang thay đổi từng ngày.

Những khác biệt ấy cho thấy khó có thể đào tạo nhân lực chất lượng cao bằng một cách đầu tư đồng đều cho mọi ngành, mọi trường. Một sinh viên công nghệ chiến lược cần môi trường đào tạo rất khác với đào tạo đại trà. Một nhóm nghiên cứu muốn tạo ra công nghệ có khả năng thương mại hóa cũng cần nguồn lực và cơ chế hoàn toàn khác so với việc chỉ hoàn thành khối lượng giảng dạy.

Từ thực tế này, yêu cầu đổi mới cơ chế đầu tư cho giáo dục đại học ngày càng trở nên cấp thiết. Đại học Bách khoa Hà Nội kiến nghị nguồn lực dành cho đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược cần được tập trung vào một số cơ sở giáo dục đại học có đủ năng lực dẫn dắt, thay vì phân tán. Trọng tâm đầu tư là phòng thí nghiệm, xưởng thực tập, thực hành, trung tâm chế thử dùng chung, các trung tâm xuất sắc và những mô hình kết hợp đào tạo trình độ cao với nghiên cứu mạnh.

Quan trọng hơn, cách phân bổ nguồn lực cũng cần thay đổi. Thay vì chủ yếu cấp kinh phí dựa trên số lượng người học, cơ chế tài chính có thể từng bước chuyển sang đặt hàng căn cứ vào năng lực đào tạo, chất lượng đầu ra và tác động của các sản phẩm nghiên cứu, công nghệ được chuyển giao, thương mại hóa.

Doanh nghiệp phải trở thành một phần của quá trình đào tạo

Theo các chuyên gia giáo dục, đầu tư cho đại học không thể chỉ nhìn vào trường lớp, thiết bị hay số chỗ học được tạo thêm. Phần khó hơn nằm ở đầu tư cho con người, từ giảng viên, nhà khoa học đầu ngành đến những sinh viên có năng lực; đồng thời tạo môi trường để họ được nghiên cứu, thử nghiệm, thất bại, làm lại và từng bước tạo ra tri thức mới.

Mô hình đào tạo tài năng đang được một số trường triển khai phần nào cho thấy cách tiếp cận này. Đại học Phenikaa năm 2026 tuyển 65 sinh viên trên toàn quốc cho hai chương trình Khoa học máy tính và Khoa học và Công nghệ bán dẫn. Sinh viên trúng tuyển được hỗ trợ 100% học phí và ký túc xá, đồng thời được tiếp cận nghiên cứu ngay từ năm đầu.

Chương trình được thiết kế theo mô hình thạc sỹ tích hợp cử nhân trong 5 năm. Sinh viên từ năm nhất có thể tham gia các nhóm nghiên cứu, tiếp cận hơn 100 phòng thí nghiệm và thực hành, tham gia đề tài, dự án nghiên cứu cấp Bộ, cấp quốc gia và hợp tác quốc tế. Cách tổ chức này hướng tới việc đưa nghiên cứu vào quá trình đào tạo từ sớm thay vì chờ đến sau đại học người học mới bắt đầu tiếp cận môi trường khoa học.

Đổi cách đầu tư cho đại học vì thế cũng không đồng nghĩa mọi nguồn lực đều phải đến từ ngân sách nhà nước. Một hệ sinh thái đào tạo nhân lực chất lượng cao cần sự tham gia thực chất của doanh nghiệp.

Theo đó, doanh nghiệp hiểu rõ nhất mình cần loại nhân lực nào, những công nghệ nào đang được sử dụng và khoảng cách giữa năng lực của sinh viên tốt nghiệp với yêu cầu công việc nằm ở đâu. Nếu chỉ xuất hiện ở cuối chuỗi để tuyển dụng, vai trò ấy là quá muộn. Doanh nghiệp cần đi vào quá trình đào tạo từ đầu, cùng xây dựng chương trình, đưa bài toán sản xuất vào trường, đầu tư phòng thí nghiệm, cấp học bổng, đặt hàng nghiên cứu và tạo không gian thực hành cho sinh viên.

Để dòng vốn xã hội thực sự chảy vào đại học, cơ chế chính sách cũng phải đủ hấp dẫn. Một trong những đề xuất được đặt ra là có chính sách thuế và tài chính phù hợp để khuyến khích doanh nghiệp tài trợ thiết bị, đầu tư phòng thí nghiệm, cấp học bổng và đặt hàng nghiên cứu tại các trường.

Khi doanh nghiệp đầu tư cho trường đại học, lợi ích không chỉ thuộc về nhà trường. Doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn nhân lực được đào tạo sát nhu cầu, đặt hàng giải quyết những vấn đề công nghệ cụ thể và rút ngắn quá trình đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Nhà trường có thêm nguồn lực, còn sinh viên được tiếp xúc với môi trường thực tế sớm hơn.

PGS-TS.Nguyễn Hoàng Giang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội cho rằng nghiên cứu khoa học chỉ thực sự có giá trị khi được doanh nghiệp tiếp nhận, triển khai trong thực tế và tạo ra thay đổi cho xã hội. Nhà trường đang thúc đẩy mô hình kết nối Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp, đồng thời xây dựng hệ sinh thái dữ liệu dùng chung, nghiên cứu liên ngành và ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào mô phỏng công trình, tối ưu thiết kế, dự báo rủi ro, quản lý vận hành hạ tầng.

Điều cần hướng tới là một vòng tuần hoàn trong đó nguồn lực đầu tư tạo ra nghiên cứu tốt, nghiên cứu được chuyển thành công nghệ, công nghệ đi vào doanh nghiệp, còn những vấn đề mới từ doanh nghiệp lại quay trở lại trường đại học dưới dạng bài toán nghiên cứu và đào tạo.

Tin liên quan
Tin khác