Y tế - Sức khỏe
Thị trường thiết bị y tế gần 3 tỷ USD và bài toán tự chủ nguồn cung
Dương Ngân - 01/09/2026 13:33
Thị trường thiết bị y tế Việt Nam được dự báo đạt 2,86 tỷ USD vào năm 2028, song hơn 90% sản phẩm lưu hành vẫn là hàng nhập khẩu. Khoảng cách lớn giữa nhu cầu và năng lực sản xuất trong nước đặt ra yêu cầu thúc đẩy đầu tư, làm chủ công nghệ và từng bước xây dựng ngành công nghiệp thiết bị y tế đủ sức đáp ứng nhu cầu trong nước.
Việt Nam đang từng bước nâng cao năng lực sản xuất thiết bị y tế, giảm phụ thuộc vào nguồn cung nhập khẩu

Thị trường tăng nhanh, hơn 90% thiết bị vẫn phải nhập khẩu

Cùng với nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao, đầu tư cho hệ thống bệnh viện, phát triển kỹ thuật chuyên sâu và sự mở rộng của khu vực y tế tư nhân, thị trường thiết bị y tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, phía sau quy mô hàng tỷ USD là mức độ phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung bên ngoài.

Hơn 90% thiết bị y tế lưu hành tại Việt Nam là hàng nhập khẩu, đặc biệt ở những nhóm có hàm lượng công nghệ cao như chẩn đoán hình ảnh, hồi sức tích cực, xét nghiệm, điều trị ung bướu, thiết bị cấy ghép và can thiệp chuyên sâu.

Ông Hà Đắc Biên, Phó chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Thiết bị y tế Việt Nam cho rằng, với mạng lưới cơ sở khám, chữa bệnh rộng lớn, bao gồm cả khu vực công lập và tư nhân, nhu cầu thiết bị y tế tại Việt Nam rất lớn. Ước tính mỗi năm, Việt Nam phải dành hơn 2 tỷ USD để nhập khẩu thiết bị y tế. Trong khi đó, năng lực sản xuất trong nước chưa theo kịp tốc độ mở rộng của thị trường.

Tính đến tháng 6/2026, cả nước có 6.517 doanh nghiệp công bố đủ điều kiện mua bán thiết bị y tế loại B, C, D; 89 văn phòng đại diện của các hãng thiết bị y tế và 1.649 doanh nghiệp công bố đủ điều kiện sản xuất thiết bị y tế. Tuy nhiên, sản xuất trong nước chủ yếu vẫn tập trung vào thiết bị sử dụng một lần và những sản phẩm tương đối đơn giản. Năng lực nghiên cứu, phát triển và sản xuất thiết bị kỹ thuật cao, cũng như tỷ lệ nội địa hóa nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng và dịch vụ kỹ thuật, còn hạn chế.

Như vậy, vấn đề không chỉ nằm ở số lượng doanh nghiệp, mà còn ở vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị. Thị trường đang chuyển nhanh sang những sản phẩm có hàm lượng khoa học, công nghệ ngày càng lớn, trong khi sản xuất nội địa vẫn chủ yếu hiện diện ở các phân khúc có giá trị gia tăng thấp.

Mức độ phụ thuộc lớn vào nhập khẩu còn đặt ra bài toán về khả năng chủ động nguồn cung. Đối với thiết bị y tế, đặc biệt là những sản phẩm thiết yếu phục vụ cấp cứu, hồi sức, chẩn đoán và điều trị chuyên sâu, đứt gãy chuỗi cung ứng không chỉ tác động đến hoạt động của doanh nghiệp, mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực khám, chữa bệnh.

Ở chiều ngược lại, khoảng cách lớn giữa quy mô thị trường và năng lực sản xuất trong nước cũng cho thấy dư địa đầu tư đáng kể. Khi nhu cầu thị trường đủ lớn, hệ thống bệnh viện tiếp tục được đầu tư và nhu cầu tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao gia tăng, Việt Nam có điều kiện hình thành một thị trường đủ sức tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào lĩnh vực này.

Cơ hội không chỉ nằm ở những hệ thống công nghệ cao, đòi hỏi nguồn vốn và năng lực nghiên cứu lớn. Đại diện Hội Thiết bị y tế Việt Nam cho hay, doanh nghiệp có thể quan tâm đến thiết bị, dụng cụ y tế thông thường, vật tư tiêu hao, vật tư cấy ghép và thiết bị chăm sóc sức khỏe tại nhà; đồng thời từng bước phát triển sản phẩm công nghệ cao, tích hợp kết nối Internet vạn vật.

Tuy nhiên, mở rộng sản xuất phải đi đôi với nâng chuẩn chất lượng. Thực tế kiểm tra tại Hà Nội cho thấy, trong 74 cơ sở sản xuất, kinh doanh răng giả được kiểm tra từ đầu năm 2026, có 33 cơ sở vi phạm, chiếm 44,6%, với tổng số tiền xử phạt khoảng 1,3 tỷ đồng. Những vi phạm được phát hiện liên quan đến hồ sơ pháp lý, nhân sự kỹ thuật, điều kiện bảo quản, chất lượng sản phẩm và hệ thống
quản lý chất lượng.

Từ giảm phụ thuộc nhập khẩu đến mục tiêu tự chủ công nghệ và chuỗi cung ứng

Khoảng cách giữa thị trường gần 3 tỷ USD và năng lực sản xuất nội địa đang đặt ra một yêu cầu mang tính chiến lược: Việt Nam cần từng bước chuyển từ một thị trường chủ yếu nhập khẩu và phân phối thiết bị sang phát triển năng lực sản xuất, nghiên cứu và làm chủ công nghệ.

Mục tiêu này không đồng nghĩa với việc phải sản xuất mọi thiết bị trong nước. Với một ngành có yêu cầu rất cao về công nghệ, độ chính xác và an toàn, điều quan trọng là xác định những phân khúc Việt Nam có khả năng cạnh tranh để tập trung nguồn lực, từng bước nâng tỷ lệ nội địa hóa và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Trước mắt, dư địa có thể nằm ở vật tư tiêu hao, thiết bị chăm sóc tại nhà, vật tư cấy ghép và những thiết bị có trình độ công nghệ phù hợp với năng lực của doanh nghiệp trong nước. Trên nền tảng đó, Việt Nam có thể từng bước tiến tới các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao hơn như thiết bị xét nghiệm, cảm biến y sinh, thiết bị phục hồi chức năng, phần mềm y tế, hệ thống theo dõi sức khỏe và các sản phẩm tích hợp trí tuệ nhân tạo.

Đối với những công nghệ Việt Nam chưa thể tự chủ, việc thu hút đầu tư nước ngoài cần được gắn chặt hơn với chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực và hình thành mạng lưới doanh nghiệp cung ứng trong nước. Thay vì chỉ nhập khẩu thiết bị hoàn chỉnh, mục tiêu dài hạn cần hướng tới thu hút các tập đoàn công nghệ y tế đặt cơ sở sản xuất, trung tâm nghiên cứu, đào tạo kỹ sư và xây dựng chuỗi cung ứng tại Việt Nam.

Nói cách khác, bài toán chiến lược không đơn thuần là thay thế hàng nhập khẩu, mà là từng bước chuyển từ nhập khẩu sản phẩm sang tiếp nhận, làm chủ và phát triển công nghệ.

Định hướng này cũng phù hợp với chủ trương phát triển khu vực kinh tế tư nhân và các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học, công nghệ cao. Nghị quyết số 68-NQ/TW xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; trong đó, y tế, dược phẩm và thiết bị y tế là những lĩnh vực giàu tiềm năng, cần được khuyến khích phát triển, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà cũng đặt ra yêu cầu đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ khoa học, công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn; phát triển công nghiệp dược và thiết bị y tế trong nước theo hướng hiện đại, chuyên sâu, nâng cao năng lực sản xuất, chủ động nguồn cung và góp phần bảo đảm an ninh y tế quốc gia.

Một trụ cột khác của mục tiêu này là xây dựng chuỗi cung ứng có khả năng chống chịu tốt hơn. Bộ Y tế đang xây dựng Đề án “Quản lý chuỗi cung ứng thiết bị y tế giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035”, hướng tới quản lý thống nhất, đồng bộ, dựa trên dữ liệu; tăng cường truy xuất nguồn gốc, giám sát sau lưu hành và hậu kiểm theo rủi ro. Qua đó, bảo đảm nguồn cung thiết bị y tế liên tục, an toàn, chất lượng, hiệu quả, giá cả hợp lý, đồng thời thúc đẩy công nghiệp thiết bị y tế trong nước.

Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên, để mục tiêu phát triển công nghiệp thiết bị y tế đi vào thực chất, bên cạnh quản lý chuỗi cung ứng, một yêu cầu quan trọng là xây dựng hệ sinh thái đầu tư cho ngành. Thiết bị y tế là lĩnh vực có rào cản gia nhập cao, đòi hỏi vốn lớn, công nghệ, nhân lực kỹ thuật, hoạt động nghiên cứu và phát triển, thử nghiệm, kiểm định, tiêu chuẩn chất lượng, cũng như khả năng chứng minh độ an toàn và hiệu quả của sản phẩm.

Do đó, chính sách cần tạo điều kiện hình thành mối liên kết giữa doanh nghiệp, bệnh viện, trường đại học và viện nghiên cứu; thúc đẩy nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm. Cùng với đó là phát triển đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ y sinh và hệ thống kiểm định, đánh giá chất lượng đủ năng lực hỗ trợ doanh nghiệp đưa sản phẩm ra thị trường.

Thị trường mua sắm y tế cũng có thể trở thành động lực quan trọng cho sản xuất trong nước. Những thiết bị do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất, nếu đáp ứng đầy đủ yêu cầu về chất lượng, an toàn, hiệu quả và giá cả cạnh tranh, cần có cơ hội tiếp cận thị trường bình đẳng. Chỉ khi có đầu ra đủ lớn và ổn định, doanh nghiệp mới có động lực đầu tư cho nghiên cứu, dây chuyền sản xuất, nhân lực
và nâng tỷ lệ nội địa hóa.

Cùng với khuyến khích đầu tư, thị trường phải được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng. Bộ Y tế đang yêu cầu tăng cường hậu kiểm hoạt động sản xuất, kinh doanh và sử dụng thiết bị y tế; kiểm soát nguồn gốc, xuất xứ, hồ sơ pháp lý; đồng thời xử lý nghiêm thiết bị giả, kém chất lượng, không có số lưu hành hoặc không rõ nguồn gốc.

Tin liên quan
Tin khác