Quản lý sức khỏe học sinh từ đầu năm học, phát hiện sớm nguy cơ bệnh tật
Bộ Y tế vừa ban hành thông tư quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 165/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng bệnh. Một trong những nội dung đáng chú ý là quy định kiểm tra sức khỏe đầu năm học đối với trẻ em tại các cơ sở giáo dục mầm non và học sinh tại các cơ sở giáo dục phổ thông.
Việc kiểm tra được thực hiện mỗi năm một lần vào đầu năm học, hướng tới đánh giá tình trạng sức khỏe ban đầu của người học, phát hiện sớm những vấn đề sức khỏe và bệnh, tật phổ biến ở lứa tuổi học đường. Trên cơ sở kết quả kiểm tra, trẻ có thể được tư vấn, theo dõi hoặc chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi cần thiết.
| Việc kiểm tra được thực hiện mỗi năm một lần vào đầu năm học, hướng tới đánh giá tình trạng sức khỏe ban đầu của người học, phát hiện sớm những vấn đề sức khỏe và bệnh, tật phổ biến ở lứa tuổi học đường. |
Địa điểm kiểm tra được tổ chức linh hoạt tùy điều kiện thực tế, có thể tại cơ sở giáo dục, trạm y tế cấp xã, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc địa điểm phù hợp khác đáp ứng quy định của pháp luật.
Quy định mới đặt việc theo dõi sức khỏe học sinh ngay từ thời điểm bắt đầu năm học, qua đó tạo cơ sở nhận diện sớm những vấn đề có thể ảnh hưởng đến quá trình học tập, phát triển thể chất và tinh thần của trẻ.
Với trẻ mầm non, nội dung kiểm tra tương đối toàn diện, bao gồm đánh giá các dấu hiệu sinh tồn, tình trạng dinh dưỡng, sự phát triển tinh thần - vận động và tình trạng tiêm chủng.
Đánh giá sự phát triển tinh thần - vận động được thực hiện dựa trên hành vi và năng lực của trẻ tương ứng với từng độ tuổi, trong đó xem xét cả sự phát triển tinh thần và vận động. Đáng chú ý, trẻ từ 16 đến 30 tháng tuổi còn được đánh giá nguy cơ tự kỷ nhằm góp phần phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường trong giai đoạn phát triển quan trọng.
Bên cạnh đó, trẻ được khám lâm sàng các bộ phận như đầu, cổ, mắt, tai - mũi - họng, răng - miệng, cơ - xương - thần kinh. Việc đánh giá đồng thời nhiều yếu tố giúp hình thành bức tranh tương đối đầy đủ về tình trạng sức khỏe của trẻ khi bước vào năm học mới.
Đối với học sinh phổ thông, nội dung kiểm tra bao gồm đánh giá tình trạng sức khỏe, khám thể lực và khám lâm sàng theo quy định. Ở lứa tuổi học đường, những thay đổi về thể chất diễn ra nhanh trong khi thời gian học tập, sử dụng thiết bị điện tử và đặc điểm sinh hoạt có thể tác động đến sức khỏe.
Thông tư đồng thời tránh việc tổ chức kiểm tra trùng lặp. Trường hợp địa phương đã thực hiện khám sức khỏe định kỳ vào đầu năm học cho trẻ mầm non và học sinh phổ thông theo Thông tư số 32/2023/TT-BYT, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 25/2026/TT-BYT, người học không phải thực hiện thêm một lần kiểm tra sức khỏe đầu năm theo quy định mới.
Đối với sinh viên tại cơ sở giáo dục đại học và người học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, việc khám sức khỏe định kỳ tiếp tục thực hiện theo Nghị định số 165/2026/NĐ-CP và các quy định hiện hành về khám bệnh, chữa bệnh.
Một điểm đáng chú ý khác là kết quả kiểm tra không chỉ dừng lại ở hồ sơ tại trường học. Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở giáo dục tổ chức kiểm tra sức khỏe đầu năm và cập nhật dữ liệu lên Cổng dữ liệu sức khỏe của Bộ Y tế theo hướng dẫn.
Việc số hóa dữ liệu có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình quản lý sức khỏe người học lâu dài. Khi thông tin sức khỏe được cập nhật và theo dõi có hệ thống, những thay đổi về thể lực, dinh dưỡng hoặc các vấn đề sức khỏe của trẻ qua từng giai đoạn có thêm cơ sở để được nhận diện và quản lý.
Trường hợp phát hiện người học có dấu hiệu bất thường, cơ sở giáo dục có trách nhiệm tư vấn và chuyển trẻ đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp. Như vậy, kiểm tra sức khỏe đầu năm không chỉ nhằm ghi nhận các chỉ số mà còn gắn với quá trình tư vấn, theo dõi và chuyển tuyến khi cần thiết.
Để triển khai, nguồn kinh phí kiểm tra sức khỏe đầu năm học được huy động từ nhiều nguồn, gồm kinh phí sự nghiệp y tế, giáo dục và đào tạo hằng năm theo phân cấp ngân sách; quỹ Bảo hiểm y tế theo quy định và nguồn hỗ trợ từ Quỹ Phòng bệnh.
Ngoài ra, kinh phí có thể đến từ nguồn tài trợ, hỗ trợ của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật cùng các nguồn thu hợp pháp khác.
Một đợt rối loạn tiêu hóa có thể đẩy người bệnh thận mạn tới sát ngưỡng lọc máu
Thường xuyên sử dụng thức ăn bảo quản lâu ngày trong tủ lạnh và hâm lại nhiều lần, người phụ nữ 74 tuổi được nghi ngờ gặp tình trạng nhiễm trùng hoặc ngộ độc thực phẩm, dẫn đến mất nước và tổn thương thận cấp trên nền bệnh thận mạn. Độ lọc cầu thận có thời điểm giảm xuống 6,7 mL/phút/1,73 m², khiến người bệnh đứng trước nguy cơ phải lọc máu.
Suốt nhiều năm, bà Bính, 74 tuổi, có thói quen cất thức ăn thừa trong tủ lạnh vì tiếc bỏ đi, sau đó lấy ra hâm lại trong những bữa ăn tiếp theo. Thói quen tưởng như tiết kiệm này trở thành một trong những yếu tố được bác sỹ lưu ý khi tìm nguyên nhân khiến chức năng thận của bà đột ngột suy giảm nghiêm trọng.
Bà Bính vốn mắc bệnh thận mạn giai đoạn 3-4 và được bác sỹ Tạ Phương Dung, chuyên khoa tiết niệu - thận học - nam khoa theo dõi, điều trị ổn định trong khoảng 3 năm. Khoảng hai tuần trước, người bệnh nhập viện trong tình trạng mệt mỏi, ăn uống kém và suy kiệt. Kết quả kiểm tra cho thấy độ lọc cầu thận eGFR giảm đột ngột xuống còn 6,7 mL/phút/1,73 m², tương đương mức suy thận giai đoạn 5.
Bác sỹ Tạ Phương Dung cho biết, người bệnh bị tổn thương thận cấp trên nền bệnh thận mạn. Khi chức năng thận giảm xuống mức rất thấp, hàng loạt rối loạn nguy hiểm có thể xuất hiện như tăng kali máu, toan chuyển hóa, quá tải dịch và hội chứng urê huyết. Nếu không kiểm soát được tình trạng này, người bệnh có thể phải lọc máu.
Điều đáng chú ý là trước đó chức năng thận của bà Bính tương đối ổn định. Để xác định yếu tố khiến độ lọc cầu thận giảm nhanh trong thời gian ngắn, các bác sỹ khai thác kỹ tiền sử sử dụng thuốc, đặc biệt khả năng tự dùng thuốc nam, thuốc bắc hoặc những sản phẩm không rõ nguồn gốc có nguy cơ ảnh hưởng đến thận.
Tuy nhiên, người bệnh cho biết vẫn tuân thủ phác đồ điều trị và không sử dụng thêm thuốc bên ngoài. Khi tiếp tục khai thác chế độ sinh hoạt, các bác sỹ ghi nhận bà Bính thường xuyên sử dụng thức ăn cũ được bảo quản trong tủ lạnh và hâm lại nhiều lần. Khoảng một tuần trước khi nhập viện, bà bắt đầu ăn uống kém, sợ thức ăn, mệt mỏi và thường xuyên buồn ngủ.
Từ diễn biến lâm sàng và tiền sử ăn uống, bác sỹ nhận định người bệnh có khả năng gặp tình trạng nhiễm trùng hoặc ngộ độc thực phẩm gây rối loạn tiêu hóa, dẫn tới mất nước, giảm thể tích tuần hoàn và giảm lượng máu tới thận. Với một người vốn đã mắc bệnh thận mạn, những thay đổi này có thể trở thành tác nhân thúc đẩy tổn thương thận cấp.
Bác sỹ Tạ Phương Dung phân tích, ở người mắc bệnh thận mạn, một đợt nôn, tiêu chảy hoặc sốt do nhiễm trùng đường tiêu hóa cũng có thể khởi phát tổn thương thận cấp. Khi cơ thể mất nhiều nước, thể tích tuần hoàn giảm, huyết áp và lượng máu đến thận có thể giảm theo.
Thận khỏe mạnh có khả năng thích nghi ở một mức độ nhất định trước những thay đổi của cơ thể. Nhưng với người đã suy giảm chức năng thận, khả năng bù trừ hạn chế hơn. Khi lượng máu tới thận giảm mạnh, chức năng lọc có thể suy giảm nhanh chóng.
Nguy cơ vì vậy không chỉ nằm ở một bữa ăn gây rối loạn tiêu hóa mà ở chuỗi tác động tiếp theo đối với cơ thể, đặc biệt trên những người vốn có chức năng thận suy giảm.
Thực phẩm bảo quản không phù hợp có thể tạo điều kiện cho một số vi khuẩn gây bệnh phát triển như Salmonella, E. coli hoặc Staphylococcus aureus. Khi gây bệnh đường tiêu hóa với biểu hiện nôn, tiêu chảy, sốt, người bệnh có nguy cơ mất nước và rối loạn điện giải. Nếu xảy ra trên nền bệnh thận mạn, hậu quả có thể nghiêm trọng hơn.
Một trong những rối loạn đặc biệt nguy hiểm ở bệnh nhân suy thận là tăng kali máu. Khi khả năng đào thải kali của thận suy giảm, kali có thể tích tụ trong máu và ở mức độ nặng gây rối loạn nhịp tim, đe dọa tính mạng. Cùng với đó, urê, creatinin và các sản phẩm chuyển hóa không được đào thải hiệu quả có thể tiếp tục tích tụ, khiến người bệnh phải lọc máu nếu xuất hiện chỉ định.
Với bà Bính, độ lọc cầu thận xuống còn 6,7 mL/phút/1,73 m² đặt các bác sỹ trước khả năng phải can thiệp lọc máu nếu tình trạng tiếp tục xấu đi hoặc xuất hiện những chỉ định cấp cứu.
Trong những ngày đầu điều trị, chức năng thận vẫn ở mức nguy hiểm. Ê-kíp phải theo dõi sát kali máu, tình trạng toan chuyển hóa, lượng nước tiểu, cân bằng dịch cùng các biểu hiện toàn thân để quyết định thời điểm cần can thiệp.
Dù chức năng thận đã giảm sâu, người bệnh vẫn còn khả năng bài tiết nước tiểu. Các bác sỹ tiếp tục điều trị tổn thương thận cấp trên nền bệnh thận mạn, tập trung khôi phục tưới máu thận, điều chỉnh rối loạn điện giải và xử trí nguyên nhân nghi nhiễm trùng đường tiêu hóa.
Bệnh nhân được bù dịch phù hợp với tình trạng tim mạch và lượng nước tiểu, kiểm soát huyết áp, đường huyết và các rối loạn điện giải. Việc bù dịch ở người bệnh thận mạn cũng cần được tính toán và theo dõi chặt chẽ bởi lượng dịch không phù hợp có thể làm tăng nguy cơ quá tải tuần hoàn.
Sau điều trị, độ lọc cầu thận của bà Bính dần cải thiện. Người bệnh ăn uống tốt hơn, tỉnh táo, sức khỏe ổn định và được xuất viện sau một tuần, khi eGFR tăng lên 17,48 mL/phút/1,73 m².
Ba ngày sau khi xuất viện, kết quả tái khám ghi nhận eGFR tiếp tục tăng lên 21,97 mL/phút/1,73 m², trở về gần mức chức năng thận trước đợt tổn thương cấp và người bệnh chưa phải lọc máu.
Từ trường hợp này, các bác sỹ đặc biệt lưu ý nguy cơ tổn thương thận cấp ở những người đã mắc bệnh thận mạn. Một đợt nhiễm trùng, sốt, nôn hoặc tiêu chảy làm cơ thể mất nước có thể khiến chức năng thận vốn đã suy yếu giảm nhanh trong thời gian ngắn.
Sau một đợt tổn thương thận cấp, người bệnh càng cần thận trọng để bảo vệ phần chức năng thận còn lại và hạn chế nguy cơ tái diễn. Bác sỹ khuyến cáo người mắc bệnh thận mạn cần bảo đảm an toàn thực phẩm, ăn chín, uống sôi và tránh sử dụng thực phẩm có dấu hiệu ôi thiu hoặc đã được bảo quản không đúng cách. Việc lưu trữ và sử dụng thức ăn cần bảo đảm các nguyên tắc an toàn thực phẩm, hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn đường tiêu hóa.
Chế độ dinh dưỡng của người mắc bệnh thận mạn cũng cần được cá thể hóa tùy giai đoạn bệnh và tình trạng sức khỏe. Người bệnh không nên tự ý áp dụng chế độ ăn kiêng quá mức mà cần thực hiện hướng dẫn của bác sỹ hoặc chuyên gia dinh dưỡng về lượng đạm, muối, kali, phospho và nước phù hợp với chức năng thận.
Bên cạnh chế độ ăn, người bệnh cần thận trọng với những thuốc có khả năng ảnh hưởng đến chức năng thận. Một số thuốc giảm đau, kháng viêm không steroid như ibuprofen, diclofenac có thể làm tăng nguy cơ tổn thương thận trong những tình huống nhất định, đặc biệt ở người bệnh thận mạn hoặc đang mất nước. Việc sử dụng thuốc cần có hướng dẫn chuyên môn.
Người bệnh cũng cần tái khám định kỳ để theo dõi creatinin, eGFR, điện giải, nước tiểu và các biến chứng liên quan đến bệnh thận mạn. Đặc biệt, khi xuất hiện nôn, tiêu chảy, sốt, ăn uống kém, tiểu ít, phù, khó thở, mệt lả hoặc rối loạn ý thức, người mắc bệnh thận mạn không nên chờ các triệu chứng tự hết hoặc tự điều trị kéo dài tại nhà mà cần đến cơ sở y tế để được đánh giá chức năng thận và điện giải.
Phát hiện và xử trí sớm tổn thương thận cấp có thể tạo ra khác biệt lớn đối với khả năng bảo tồn chức năng thận. Với những người đã có bệnh thận mạn, phòng tránh nhiễm trùng, mất nước và các yếu tố có thể tiếp tục gây tổn thương thận cũng chính là cách kéo dài thời gian bảo tồn chức năng thận và giảm nguy cơ phải phụ thuộc vào lọc máu.
Whitmore có thể tấn công não, người mắc bệnh nền cần đặc biệt cảnh giác
Từ sốt cao, đau đầu, người đàn ông 54 tuổi nhanh chóng xuất hiện co giật, mất ý thức và phải thở máy. Kết quả xét nghiệm xác định bệnh nhân mắc Whitmore với tổn thương não, trong bối cảnh đái tháo đường và rối loạn đường huyết nặng khiến tình trạng thêm phức tạp.
Người đàn ông 54 tuổi ở Ninh Bình nhập Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương sau khi xuất hiện sốt cao, đau đầu, sau đó diễn biến nặng với co giật và mất ý thức.
Thời điểm vào viện, bệnh nhân trong tình trạng li bì, rối loạn ý thức và xuất hiện các cơn co giật cục bộ. Đáng chú ý, người bệnh có tiền sử đái tháo đường, đường huyết tăng rất cao, có thời điểm vượt ngưỡng đo của máy.
Kết quả cấy máu xác định bệnh nhân nhiễm Burkholderia pseudomallei, vi khuẩn gây bệnh Whitmore. Chụp cộng hưởng từ sọ não ghi nhận tổn thương tại vùng đồi thị và rải rác ở vỏ não.
Trước tình trạng nặng, bệnh nhân được đặt ống nội khí quản, thở máy, điều trị nhiễm khuẩn đồng thời kiểm soát các rối loạn chuyển hóa.
Bác sỹ Bùi Đức Long Thành, Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho biết, rối loạn đường huyết, tăng áp lực thẩm thấu và rối loạn điện giải là những yếu tố khiến tình trạng thần kinh của người bệnh thêm phức tạp.
Sau gần một tháng điều trị, sức khỏe bệnh nhân đã cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, người bệnh vẫn cần tiếp tục điều trị đủ liệu trình, kiểm soát chặt đường huyết và theo dõi quá trình phục hồi.
Trường hợp này cho thấy một diễn biến đặc biệt nguy hiểm của Whitmore khi tác nhân gây bệnh không chỉ gây nhiễm trùng mà còn liên quan đến tổn thương hệ thần kinh trung ương.
Burkholderia pseudomallei sống chủ yếu trong đất, đặc biệt là đất ẩm và nguồn nước ô nhiễm. Vi khuẩn có thể xâm nhập cơ thể khi con người tiếp xúc với môi trường có mầm bệnh, trong đó những tổn thương trên da có thể trở thành đường xâm nhập.
Whitmore đôi khi được gọi bằng cái tên "vi khuẩn ăn thịt người". Tuy nhiên, điều đáng quan tâm về mặt y khoa không nằm ở cách gọi gây ám ảnh này mà ở khả năng gây nhiễm trùng nặng, tổn thương nhiều cơ quan và nguy cơ tử vong nếu bệnh diễn biến nghiêm trọng.
Một trong những thách thức của Whitmore là biểu hiện bệnh không đặc hiệu. Bệnh thậm chí được gọi là "kẻ bắt chước vĩ đại" do các triệu chứng có thể tương tự nhiều bệnh lý khác. Người mắc có thể sốt và xuất hiện những biểu hiện dễ nhầm với cúm, lao phổi hoặc các bệnh nhiễm trùng khác, khiến việc nhận diện sớm không phải lúc nào cũng dễ dàng.
Khi bệnh tiến triển nặng, hậu quả có thể nghiêm trọng hơn nhiều. Nhiễm khuẩn có khả năng gây tổn thương nhiều cơ quan. Nếu hệ thần kinh trung ương bị ảnh hưởng, quá trình điều trị và phục hồi trở nên phức tạp hơn, người bệnh có nguy cơ đối mặt với các di chứng về nhận thức và vận động.
Đặc biệt, những người mắc đái tháo đường cần cảnh giác với căn bệnh này. Bác sỹ Bùi Đức Long Thành cho biết, đái tháo đường là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng khiến Whitmore dễ diễn biến nặng. Khi đường huyết không được kiểm soát tốt, khả năng chống đỡ nhiễm trùng của cơ thể suy giảm, tạo điều kiện để bệnh diễn biến phức tạp.
Không chỉ người mắc đái tháo đường, những trường hợp có bệnh thận mạn tính, bệnh gan mạn tính, bệnh phổi mạn tính, người sử dụng rượu kéo dài hoặc suy giảm miễn dịch cũng cần thận trọng hơn khi tiếp xúc với đất và nước.
Nguy cơ càng đáng lưu ý với những người thường xuyên làm việc ngoài trời, làm ruộng hoặc tiếp xúc trực tiếp với đất, bùn và nước, nhất là khi trên da đang có vết trầy xước hoặc tổn thương.
Trong khi đó, Whitmore hiện chưa có vắc-xin phòng bệnh. Các biện pháp dự phòng vì vậy tập trung vào hạn chế nguy cơ tiếp xúc với nguồn chứa vi khuẩn và bảo vệ những người thuộc nhóm nguy cơ cao.
Bác sỹ khuyến cáo người làm việc ngoài trời cần sử dụng đầy đủ phương tiện bảo hộ như găng tay, ủng, hạn chế để da tiếp xúc trực tiếp với đất và nước bẩn. Nếu có vết thương trên da, cần đặc biệt chú ý bảo vệ vùng tổn thương khi tiếp xúc với môi trường.
Vệ sinh cá nhân cũng có vai trò quan trọng. Người dân cần thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và nước sạch, nhất là sau khi làm ruộng, tiếp xúc với đất, trước và sau khi chế biến thức ăn và sau khi đi vệ sinh; thực hiện ăn chín, uống sôi, không sử dụng thịt gia súc, gia cầm bị ốm hoặc chết.
Những dấu hiệu bất thường trên da như sưng, nóng, đỏ, đau kéo dài, khối sưng ngày càng lớn, có mủ hoặc đi kèm sốt cũng không nên bị xem nhẹ. Người bệnh không nên tự điều trị kéo dài bởi việc này có thể che lấp triệu chứng và làm chậm thời điểm phát hiện bệnh.
Đặc biệt, người mắc đái tháo đường hoặc các bệnh mạn tính nếu xuất hiện sốt kéo dài, biểu hiện nhiễm trùng, đau đầu, rối loạn ý thức, co giật hoặc những bất thường thần kinh cần được đưa đến cơ sở y tế sớm.