Y tế - Sức khỏe
Hơn 4,8 triệu trẻ thừa cân, béo phì và cảnh báo gánh nặng bệnh tật đến sớm
D.Ngân - 16/08/2026 16:39
Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia có tốc độ gia tăng béo phì trẻ em nhanh nhất thế giới, với hơn 4,8 triệu trẻ thừa cân, béo phì trong năm 2025

Đáng lo ngại, những bệnh lý vốn thường xuất hiện ở tuổi trưởng thành như gan nhiễm mỡ, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, tăng đường huyết đang hiện diện ở hàng trăm nghìn trẻ em.

Béo phì ở trẻ em đang vượt ra khỏi câu chuyện cân nặng hay ngoại hình để trở thành một thách thức sức khỏe cộng đồng đáng lo ngại. Những số liệu mới nhất cho thấy không chỉ số trẻ thừa cân, béo phì tăng nhanh, các hệ lụy về chuyển hóa, tim mạch cũng đang xuất hiện ngày càng sớm.

Những số liệu mới nhất cho thấy không chỉ số trẻ thừa cân, béo phì tăng nhanh, các hệ lụy về chuyển hóa, tim mạch cũng đang xuất hiện ngày càng sớm.

Tại Hội thảo “Kiểm soát tình trạng béo phì tại TP.HCM - thực trạng và chiến lược” vừa được tổ chức, đại diện Đại học Y Dược TP.HCM dẫn số liệu của Liên đoàn Béo phì Thế giới cho biết, Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia có tốc độ gia tăng béo phì trẻ em nhanh nhất thế giới giai đoạn 2010-2025, đứng thứ 4 sau Liberia, Uganda và Pakistan.

Trong 15 năm, tỷ lệ béo phì ở trẻ em Việt Nam tăng 8,7%. Đến năm 2025, cả nước ước tính có hơn 2,2 triệu trẻ từ 5-9 tuổi béo phì và hơn 2,6 triệu trẻ từ 10-19 tuổi thừa cân hoặc béo phì. Tình trạng này phổ biến nhất tại khu vực thành thị, tiếp đến là nông thôn và thấp nhất ở miền núi.

Xu hướng gia tăng béo phì trẻ em không chỉ diễn ra tại Việt Nam mà đang trở thành thách thức lớn đối với nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước có thu nhập thấp và trung bình.

Dự báo số trẻ béo phì tại nhóm nước thu nhập thấp có thể tăng hơn gấp đôi, từ 13 triệu trẻ năm 2025 lên 27 triệu vào năm 2040. Ngược lại, tại nhóm nước thu nhập cao, con số này được dự báo giảm nhẹ từ 30 triệu xuống còn 29 triệu trẻ nhờ các chính sách và nguồn lực kiểm soát.

Một trong những rào cản trong kiểm soát béo phì trẻ em hiện nay, chính là nhận thức. Không ít phụ huynh vẫn xem con thừa cân, béo phì đơn giản là “hơi mập”, chủ yếu ảnh hưởng đến ngoại hình, thay vì nhìn nhận đây là vấn đề sức khỏe cần được theo dõi và can thiệp.

Trong khi đó, Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa béo phì là tình trạng tích tụ bất thường hoặc quá mức mô mỡ gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Hiệp hội Y khoa Mỹ cũng xếp béo phì là một tình trạng bệnh lý cần được phòng ngừa và điều trị.

Béo phì ở trẻ em là kết quả của nhiều yếu tố đan xen, từ di truyền, nội tiết, thần kinh, thuốc sử dụng đến môi trường sống. Trong đó, sự thay đổi về chế độ ăn uống và vận động đang tạo ra một môi trường khiến trẻ dễ tăng cân hơn.

Trẻ em ngày nay có thể tiếp cận rất dễ dàng với nước ngọt, thức ăn nhanh, bánh kẹo và các loại thực phẩm giàu năng lượng. Sự phát triển của quảng cáo, mạng xã hội và các nền tảng giao đồ ăn càng khiến những sản phẩm này trở nên phổ biến và thuận tiện.

Số liệu của UNICEF được dẫn tại hội thảo cho thấy, trong giai đoạn 2014-2019, tỷ lệ tiêu thụ đồ uống có ga ở trẻ em Việt Nam tăng 39%, thức ăn nhanh ngọt tăng 34% và thức ăn nhanh mặn tăng 28%.

Khoảng 35% trẻ từ 13-17 tuổi uống nước ngọt có ga ít nhất một lần mỗi ngày; 17% ăn thức ăn nhanh ít nhất một lần mỗi tuần. Đáng chú ý, ngay ở nhóm trẻ từ 2-5 tuổi, khoảng 12% ăn bánh kẹo hằng ngày.

Trong khi lượng thực phẩm giàu năng lượng dễ dàng đi vào khẩu phần của trẻ, cơ hội vận động lại ngày càng thu hẹp. Khoảng 76% trẻ từ 13-17 tuổi hoạt động thể lực dưới một giờ mỗi ngày; 41% trẻ không sử dụng phương tiện chủ động để đến trường và 41% trường trung học cơ sở, trung học phổ thông không có sân chơi thể thao.

Thực tế này cho thấy kiểm soát béo phì trẻ em không thể chỉ dừng ở lời khuyên “ăn ít đi, vận động nhiều hơn”. Nếu môi trường xung quanh trẻ vẫn khuyến khích tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng trong khi hạn chế cơ hội vận động, nỗ lực thay đổi hành vi của từng cá nhân sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Hệ quả đáng lo ngại hơn cả là béo phì đang kéo theo hàng loạt bệnh lý vốn thường được xem là bệnh của người trưởng thành xuất hiện ngay từ tuổi nhỏ.

Theo World Obesity Atlas 2026, chỉ số khối cơ thể (BMI) cao có liên quan đến khoảng 991.000 trẻ em Việt Nam từ 5-19 tuổi mắc bệnh gan nhiễm mỡ liên quan rối loạn chức năng chuyển hóa trong năm 2025. Bên cạnh đó là khoảng 515.000 trẻ tăng mỡ máu, 352.000 trẻ tăng huyết áp và 163.000 trẻ tăng đường huyết.

Như vậy, đằng sau hơn 4,8 triệu trẻ thừa cân, béo phì không chỉ là nguy cơ về cân nặng mà còn là hàng trăm nghìn trường hợp đã phải đối mặt với những rối loạn chuyển hóa và tim mạch từ rất sớm.

Đặc biệt, mô hình bệnh tật ở trẻ cũng đang thay đổi. Nếu trước đây tăng huyết áp ở trẻ chủ yếu là tăng huyết áp thứ phát, hiện khoảng 30-50% trường hợp tăng huyết áp nguyên phát ở trẻ có liên quan đến béo phì.

Tương tự, đái tháo đường type 2 từng rất hiếm gặp ở trẻ em cách đây khoảng 20 năm, nay đã chiếm 30-40% số trường hợp đái tháo đường ở trẻ.

Béo phì còn liên quan đến nhiều vấn đề sức khỏe khác như xơ vữa động mạch, bệnh tim mạch, ngưng thở khi ngủ, hội chứng buồng trứng đa nang, bệnh thận, các vấn đề cơ xương khớp và về lâu dài làm gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ.

Khoảng 50-80% trẻ béo phì có thể tiếp tục béo phì khi trưởng thành. Điều này đồng nghĩa những rối loạn xuất hiện từ thời thơ ấu có nguy cơ kéo dài hàng chục năm, làm gia tăng gánh nặng bệnh mạn tính khi trẻ bước vào tuổi trưởng thành.

Gánh nặng không chỉ dừng lại ở sức khỏe. Dự kiến đến năm 2060, Việt Nam có thể phải chi khoảng 103 tỷ USD để ứng phó với béo phì, tương đương khoảng 2,81% GDP. Chi phí bao gồm khám, xét nghiệm, thuốc, phẫu thuật, theo dõi lâu dài và nhiều khoản gián tiếp như cha mẹ phải nghỉ làm để đưa con đi khám, trẻ nghỉ học, chi phí đi lại và phục hồi chức năng.

Riêng một số thuốc điều trị béo phì dành cho trẻ trên 12 tuổi hiện có thể tốn 6-7 triệu đồng mỗi tháng. Ngoài chi phí y tế, béo phì còn tác động đến tâm lý, chất lượng cuộc sống, khả năng hòa nhập xã hội và về lâu dài có thể ảnh hưởng đến cơ hội nghề nghiệp của trẻ.

Trước tốc độ gia tăng của béo phì, giới chuyên gia cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận, bắt đầu từ việc nhìn nhận béo phì là một bệnh lý và can thiệp ngay khi trẻ có dấu hiệu thừa cân, thay vì đợi đến khi cân nặng tăng quá nhiều hoặc đã xuất hiện biến chứng.

Việc kiểm soát cân nặng cũng cần phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Không phải trẻ nào thừa cân, béo phì cũng cần giảm cân nhanh. Với trẻ vẫn đang phát triển chiều cao, mục tiêu trong một số trường hợp có thể là duy trì cân nặng để BMI giảm dần theo thời gian dưới sự theo dõi của nhân viên y tế.

Ở gia đình, cha mẹ cần hạn chế nước ngọt, thức ăn nhanh và đồ ăn vặt giàu năng lượng, đồng thời tạo điều kiện để trẻ vận động thường xuyên. Tuy nhiên, trách nhiệm kiểm soát béo phì không thể chỉ đặt lên vai từng gia đình.

Ở tuyến y tế cơ sở, việc theo dõi cân nặng, chiều cao, BMI và vòng eo cần được tăng cường nhằm phát hiện sớm trẻ có nguy cơ. Những trường hợp béo phì kèm các rối loạn chuyển hóa hoặc biến chứng cần được chuyển đến cơ sở chuyên khoa để đánh giá và can thiệp phù hợp.

Ở cấp độ rộng hơn, kiểm soát béo phì trẻ em đòi hỏi sự phối hợp giữa y tế, giáo dục, gia đình và các cơ quan liên quan. Các giải pháp cần bắt đầu từ chăm sóc sức khỏe trước sinh, phòng ngừa béo phì ở người mẹ, thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ đến kiểm soát dinh dưỡng, thực phẩm và xây dựng môi trường thuận lợi cho vận động tại trường học.

Tin liên quan
Tin khác