Chủ quan với tăng huyết áp, người phụ nữ 62 tuổi bị xuất huyết não
“Tôi thấy mình khỏe lắm, không chóng mặt hay đau đầu, làm việc nhà nhiều giờ không mệt, ăn uống tốt”, bà Hòa chia sẻ. Chính cảm giác “không có triệu chứng” khiến bà chủ quan, không uống thuốc và không tái khám trong thời gian dài, cho rằng bệnh không nguy hiểm.
| Ảnh minh họa. |
Cho đến một buổi sáng, khi vừa thức dậy, bà bắt đầu cảm nhận cơ thể có điều bất thường. Những công việc quen thuộc như gấp chăn, vệ sinh cá nhân hay quét dọn nhà cửa bỗng trở nên khó khăn. “Tôi thấy bàn tay mình vụng về, không còn nhanh nhẹn, linh hoạt như mọi ngày”, bà kể.
Đo huyết áp tại nhà, chỉ số lên tới 190/100 mmHg (trong khi mức bình thường dưới 120/80 mmHg). Tuy nhiên, thay vì đến bệnh viện, bà chỉ uống nước chanh và dùng tạm một viên thuốc huyết áp của chồng. Sau khi thấy đỡ, bà tiếp tục sinh hoạt như bình thường. Đến chiều cùng ngày, huyết áp vẫn cao, bà mới tới viện kiểm tra.
Theo bác sỹ Nguyễn Thị Nhung, chuyên khoa tim mạch người trực tiếp thăm khám cho bệnh nhi thì dù thăm khám ban đầu không ghi nhận các dấu hiệu điển hình như liệt tay chân, méo miệng hay nói đớ, bệnh sử và triệu chứng lại gợi ý đột quỵ. Kết quả chụp CT não xác định bà Hòa bị xuất huyết não kích thước 15x8x10 mm tại vùng đồi thị phải.
Xuất huyết não là một dạng đột quỵ xảy ra khi mạch máu trong não bị vỡ hoặc rò rỉ, gây chảy máu trong nhu mô não, làm gián đoạn việc cung cấp oxy và dưỡng chất cho tế bào não. Đây là tình trạng cấp cứu, có thể gây tổn thương nghiêm trọng não bộ và đe dọa tính mạng nếu không được xử trí kịp thời.
Theo bác sỹ, nguyên nhân gây xuất huyết não rất đa dạng như chấn thương đầu, phình mạch não, dị dạng mạch máu, rối loạn đông máu… Trong đó, tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ hàng đầu.
Với trường hợp của bà Hòa, việc không điều trị tăng huyết áp trong thời gian dài khiến áp lực dòng máu liên tục tác động lên thành mạch, làm suy yếu cấu trúc mạch máu. Khi huyết áp tăng đột ngột, các vị trí mạch bị tổn thương rất dễ vỡ, dẫn đến chảy máu não.
“Nếu không đến bệnh viện kịp thời, ổ xuất huyết có thể lan rộng, gây tổn thương nhiều vùng não, dẫn đến liệt nửa người, nói khó, méo miệng, hôn mê, suy hô hấp, thậm chí tử vong”, bác sỹ Nhung cảnh báo.
Bệnh nhân được nhập viện điều trị hạ huyết áp tích cực và theo dõi sát. Sau 5 ngày, tình trạng cải thiện rõ rệt, huyết áp trở về mức kiểm soát, bà được xuất viện và được dặn dò tuân thủ điều trị, tái khám định kỳ để phòng ngừa nguy cơ đột quỵ tái phát.
Các chuyên gia khuyến cáo, để giảm nguy cơ đột quỵ, đặc biệt ở người đã được chẩn đoán tăng huyết áp, cần chủ động theo dõi huyết áp hàng ngày và duy trì ở mức an toàn theo hướng dẫn của bác sỹ. Việc dùng thuốc phải tuân thủ nghiêm ngặt, không tự ý bỏ thuốc hoặc thay đổi liều, ngay cả khi cảm thấy khỏe.
Bên cạnh đó, người bệnh cần xây dựng lối sống lành mạnh: ăn nhiều rau xanh, cá; hạn chế thịt đỏ, giảm muối và chất béo; tránh thực phẩm chế biến sẵn; bỏ thuốc lá, hạn chế rượu bia. Tập thể dục đều đặn giúp ổn định huyết áp, cải thiện sức khỏe tim mạch và giảm nguy cơ tai biến.
Đặc biệt, khi thời tiết chuyển lạnh, cần giữ ấm cơ thể, bởi nhiệt độ thấp có thể làm co mạch, khiến huyết áp tăng đột ngột và làm gia tăng nguy cơ đột quỵ.
Người lớn tuổi khi xuất hiện các dấu hiệu nghi ngờ đột quỵ như đau đầu, chóng mặt, lú lẫn, yếu liệt nửa người, buồn nôn, rối loạn thị lực hoặc mất ý thức cần đến cơ sở y tế ngay lập tức để được chẩn đoán và xử trí kịp thời.
Tình cờ phát hiện ung thư tuyến giáp di căn hạch
Chỉ vì đau họng thoáng qua khi đi cùng mẹ kiểm tra sức khỏe, một thiếu niên 13 tuổi đã được “khám ké” và bất ngờ phát hiện mắc ung thư tuyến giáp đã di căn hạch cổ hiếm gặp nhưng gióng lên hồi chuông cảnh báo về nguy cơ bệnh lý âm thầm ở trẻ.
Bệnh nhi Trung (13 tuổi) nhập viện trong tình trạng mới đau nhói vùng cổ khoảng ba ngày. Trước đó, em vẫn sinh hoạt và ăn uống bình thường, gia đình không có tiền sử ung thư, kể cả ung thư tuyến giáp. Trung có thể trạng thừa cân với cân nặng 103 kg, cao 1m76.
Theo Ths.Huỳnh Bá Tấn, chuyên khoa ngoại ung bướu, thăm khám phát hiện vùng cổ của Trung có hạch cứng. Kết quả siêu âm ghi nhận khối u thùy trái tuyến giáp kích thước 3×2,5 cm, có vôi hóa và bờ gồ ghề.
Đồng thời, vùng sát khí quản và trên đòn hai bên xuất hiện nhiều hạch sưng, trong đó hạch lớn nhất 2×1,2 cm, nghi ngờ di căn. Kết quả sinh thiết hạch bằng kim nhỏ xác định bệnh nhân mắc ung thư tuyến giáp dạng nhú, đã di căn hạch cổ trái.
Theo bác sỹ Tấn, ngoài yếu tố tiền sử gia đình, viêm tuyến giáp tự miễn, đột biến gen và phơi nhiễm bức xạ vùng cổ, tình trạng thừa cân, béo phì có thể là yếu tố thúc đẩy ung thư tuyến giáp.
Mỡ thừa làm giảm độ nhạy insulin, khiến tụy và gan tăng tiết hormone này, đồng thời giải phóng yếu tố tăng trưởng IGF-1. Khi insulin và IGF-1 tăng cao, chúng kích thích tế bào tuyến giáp tăng sinh liên tục và ức chế quá trình chết tế bào tự nhiên.
Bên cạnh đó, mô mỡ dư thừa còn làm tăng tiết leptin, chất thúc đẩy hình thành mạch máu nuôi khối u đồng thời làm giảm adiponectin, một yếu tố có vai trò ức chế khối u.
Sự mất cân bằng này làm thay đổi vi môi trường vùng cổ, tạo điều kiện cho tế bào đột biến phát triển và xâm lấn. Trẻ béo phì cũng thường có nồng độ hormone kích thích tuyến giáp (TSH) cao hơn bình thường, thúc đẩy tế bào tuyến giáp phì đại, gia tăng nguy cơ sai sót di truyền như đột biến BRAF, từ đó hình thành khối u ác tính hoặc làm khối u lành tính tiến triển thành ung thư.
Đáng chú ý, dù khối u có kích thước lớn, Trung và gia đình vẫn khó phát hiện tại nhà do lớp mỡ dày dưới da che lấp. Ngay cả quá trình siêu âm cũng gặp khó khăn khi hai thùy tuyến giáp của bệnh nhi phình to.
Bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp và nạo hạch. Tuy nhiên, ca mổ đối mặt với nhiều thách thức. Trong quá trình gây mê, việc đặt nội khí quản gặp khó khăn do vòng cổ lớn, khoang miệng hẹp và vùng hầu họng phì đại.
Sau khi gây mê, lượng oxy dự trữ trong phổi giảm nhanh do thể tích cặn chức năng thấp, buộc ê kíp phải tính toán kỹ liều thuốc mê và thuốc giãn cơ để đảm bảo an toàn.
Trong phẫu thuật, tình trạng thừa cân khiến các mốc giải phẫu vùng cổ bị biến dạng. Cổ bệnh nhân ngắn, to, lớp mỡ dày bao phủ khiến phẫu trường hẹp và sâu.
Mô mỡ tăng sinh mạch máu bất thường làm tăng nguy cơ chảy máu. Hai dây thần kinh quặt ngược chi phối giọng nói cùng bốn tuyến cận giáp nhỏ như hạt gạo đều bị “vùi sâu” trong mô mỡ, khiến việc bóc tách trở nên đặc biệt phức tạp.
Ê kíp phẫu thuật phải cẩn trọng bóc tách từng cấu trúc, bảo tồn dây thần kinh và tuyến cận giáp trước khi cắt bỏ tuyến giáp và nạo hạch di căn. Ca mổ kéo dài khoảng 6 giờ, gấp bốn lần so với phẫu thuật ung thư tuyến giáp thông thường.
Sau phẫu thuật, Trung hồi phục tốt, không bị khàn tiếng hay gặp các biến chứng như tê tay, hụt hơi. Bệnh nhi tiếp tục điều trị bằng i-ốt phóng xạ để ngăn nguy cơ tái phát. Theo bác sỹ Tấn, việc điều trị ung thư tuyến giáp không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản sau này. Dù bệnh đã di căn hạch cổ, nhưng nếu điều trị kịp thời, tiên lượng khỏi bệnh vẫn cao, lên đến khoảng 90%.
Ung thư tuyến giáp hiện là một trong những loại ung thư phổ biến tại Việt Nam, đứng thứ 6 theo GLOBOCAN.
Bệnh thường gặp ở người từ 40-70 tuổi và hiếm gặp ở trẻ em. Tuy nhiên, ở trẻ, bệnh có xu hướng di căn nhanh, đặc biệt là di căn hạch cổ. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, ung thư có thể lan đến hạch thượng đòn, phổi, xương, não, gây khó khăn trong điều trị và ảnh hưởng đến tiên lượng sống.
Các bác sỹ khuyến cáo, khi trẻ có các biểu hiện như nổi hạch cổ, đau họng kéo dài, nuốt khó, sốt… không cải thiện sau 1-2 tuần, cần đưa trẻ đi khám chuyên khoa để xác định nguyên nhân. Nhiều trường hợp ung thư tuyến giáp không có triệu chứng rõ ràng, chỉ được phát hiện qua khám sức khỏe định kỳ hoặc siêu âm.
Phương pháp điều trị chủ yếu hiện nay gồm phẫu thuật cắt tuyến giáp, nạo hạch cổ, điều trị i-ốt phóng xạ và sử dụng thuốc ức chế hormone TSH. Sau điều trị, người bệnh cần tái khám định kỳ để được theo dõi sát.
Bên cạnh đó, các chuyên gia khuyến nghị trẻ thừa cân, béo phì cần điều chỉnh chế độ dinh dưỡng hợp lý, hạn chế thực phẩm chế biến sẵn, đồ chiên rán nhiều dầu mỡ, đồng thời tăng cường vận động thể chất. Việc kiểm tra sức khỏe định kỳ đóng vai trò quan trọng trong phát hiện sớm các bất thường, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện tiên lượng bệnh.
Viêm phổi nặng do vi khuẩn đa kháng thuốc
Khó thở, đau ngực dữ dội, ho ra máu và nhanh chóng rơi vào suy hô hấp nguy kịch, đó là tình trạng của ông Tùng (52 tuổi, TP.HCM) khi nhập viện do nhiễm một chủng vi khuẩn đa kháng kháng sinh, loại tác nhân đang trở thành thách thức lớn trong điều trị các bệnh nhiễm trùng hiện nay.
Theo bệnh sử, ông Tùng có tiền sử hút thuốc lá hơn 40 năm, xuất hiện ho có đờm kéo dài hơn một tuần trước khi đột ngột ho ra máu.
Khi nhập viện, bác sỹ Lý Gia Cường ghi nhận bệnh nhân có nhịp tim nhanh 126 lần/phút, đau ngực tăng khi hít thở, phổi phải giảm thông khí kèm dấu hiệu co kéo cơ hô hấp, biểu hiện cho thấy tình trạng suy hô hấp đang tiến triển.
Kết quả chụp CT scan xác định phổi phải bị viêm nặng, kèm tràn dịch màng phổi. Đáng lo ngại, chỉ số SpO2 (nồng độ oxy trong máu) giảm còn khoảng 91% và không cải thiện dù đã thở oxy qua canula. Trước diễn biến xấu nhanh, bệnh nhân được chuyển ngay vào khoa Hồi sức tích cực, Chống độc (ICU) để theo dõi và điều trị chuyên sâu.
Tại ICU, người bệnh được hỗ trợ hô hấp bằng hệ thống oxy dòng cao (HFNC) với lưu lượng 40–50 lít/phút. Song song đó, bác sỹ sử dụng kháng sinh phổ rộng đường tĩnh mạch, kết hợp thuốc giãn phế quản, thuốc long đờm, thuốc cầm máu và giảm đau nhằm kiểm soát triệu chứng. Đồng thời, các xét nghiệm vi sinh được triển khai để xác định chính xác tác nhân gây bệnh.
Kết quả PCR đờm phát hiện vi khuẩn Acinetobacter calcoaceticus - baumannii complex với mật độ rất cao, mang gene kháng thuốc OXA, một dấu hiệu điển hình của chủng vi khuẩn đa kháng kháng sinh. Theo Ths.Nguyễn Thanh Thùy, khoa nội tổng hợp, đây chính là nguyên nhân khiến tình trạng nhiễm trùng phổi của bệnh nhân diễn tiến nhanh, nặng và khó kiểm soát bằng các phác đồ điều trị thông thường.
Trước tình huống này, các bác sỹ buộc phải điều chỉnh sang các loại kháng sinh mạnh hơn, đồng thời tăng cường các biện pháp điều trị hỗ trợ như khí dung giãn phế quản, thuốc kháng viêm đường hô hấp, kiểm soát ho ra máu và chăm sóc dinh dưỡng để nâng đỡ thể trạng.
Sau vài ngày điều trị tích cực, tình trạng hô hấp của bệnh nhân dần cải thiện. Nhu cầu oxy giảm từ thở HFNC xuống còn oxy gọng mũi 2-3 lít/phút, các triệu chứng ổn định hơn, không còn ho ra máu. Sau gần hai tuần điều trị, bệnh nhân được xuất viện trong tình trạng sức khỏe ổn định.
Theo các chuyên gia, Acinetobacter baumannii là một trong những vi khuẩn gây nhiễm trùng nguy hiểm, thường gặp ở bệnh nhân viêm phổi nặng hoặc có bệnh phổi mạn tính.
Đặc điểm đáng lo ngại của loại vi khuẩn này là khả năng kháng nhiều nhóm kháng sinh, khiến việc điều trị trở nên khó khăn, kéo dài, đồng thời làm tăng nguy cơ suy hô hấp và tử vong nếu không được phát hiện sớm.
Những người có tiền sử hút thuốc lá lâu năm, bệnh phổi mạn tính, hệ miễn dịch suy yếu hoặc phải nằm viện kéo dài là nhóm có nguy cơ cao nhiễm các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc. Khi xuất hiện các triệu chứng như ho kéo dài, đờm đặc màu vàng xanh, đau ngực khi thở, khó thở hoặc ho ra máu, người bệnh cần đến cơ sở y tế sớm để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Các bác sỹ cũng đặc biệt cảnh báo người dân không tự ý sử dụng kháng sinh khi chưa có chỉ định. Việc lạm dụng hoặc dùng kháng sinh không đúng cách chính là nguyên nhân hàng đầu làm gia tăng tình trạng vi khuẩn kháng thuốc, đe dọa ngày càng lớn đối với hiệu quả điều trị các bệnh nhiễm trùng hô hấp hiện nay.