Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 16/8: Vô sinh, hiếm muộn trẻ hóa, cảnh báo những nguy cơ tiềm ẩn
D.Ngân - 16/08/2026 08:57
Vô sinh, hiếm muộn không còn là câu chuyện chủ yếu của những cặp vợ chồng lớn tuổi. Tình trạng này đang có xu hướng trẻ hóa, trong khi nhiều yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh lý, tuổi sinh sản, di truyền và lối sống có thể tồn tại trong thời gian dài mà không được nhận biết.

Vô sinh, hiếm muộn trẻ hóa, cảnh báo những nguy cơ tiềm ẩn

Vô sinh, hiếm muộn đang trở thành vấn đề sức khỏe sinh sản đáng quan tâm khi ngày càng nhiều người trẻ phải đối mặt với khó khăn trên hành trình có con. Đáng lưu ý, nguyên nhân không chỉ đến từ nữ giới mà có thể xuất phát tương đương ở cả hai giới, thậm chí trong một số trường hợp liên quan đồng thời đến cả vợ và chồng.

Ths.Lê Thị Thu Hiền, Giám đốc chuyên môn Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội cho biết, tình trạng vô sinh, hiếm muộn đang có xu hướng gia tăng và trẻ hóa. Theo giới chuyên môn, khoảng 40% nguyên nhân liên quan đến người vợ, 40% từ người chồng, 10% do cả hai vợ chồng và khoảng 10% còn lại chưa xác định được nguyên nhân.

Ở nữ giới, những nguyên nhân thường gặp có thể liên quan đến tắc vòi tử cung, lạc nội mạc tử cung, suy giảm dự trữ buồng trứng. Bên cạnh các yếu tố bệnh lý, tuổi sinh sản cũng là vấn đề cần đặc biệt lưu ý.

Tình trạng vô sinh, hiếm muộn đang có xu hướng gia tăng và trẻ hóa. 

Xu hướng kết hôn, sinh con muộn để dành thời gian cho học tập và phát triển sự nghiệp ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, khả năng sinh sản của phụ nữ không duy trì ổn định theo thời gian. Vì vậy, việc trì hoãn kế hoạch sinh con có thể trở thành một trong những yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội mang thai, nhất là khi đi kèm các bệnh lý sinh sản chưa được phát hiện.

Ở nam giới, nguyên nhân vô sinh, hiếm muộn có thể xuất phát từ suy giảm số lượng và chất lượng tinh trùng, giãn tĩnh mạch thừng tinh, rối loạn nội tiết, sử dụng nhiều rượu bia, hút thuốc lá hoặc di chứng của một số bệnh lý. Một số trường hợp còn liên quan đến bất thường di truyền ảnh hưởng đến quá trình sinh tinh, thậm chí khiến người bệnh không có tinh trùng.

Điều đáng nói là nhiều bất thường về sức khỏe sinh sản không phải lúc nào cũng biểu hiện bằng những triệu chứng rõ ràng. Một người trẻ vẫn khỏe mạnh, sinh hoạt bình thường không đồng nghĩa khả năng sinh sản hoàn toàn không có vấn đề. Đây cũng là lý do nhiều trường hợp chỉ phát hiện bất thường sau một thời gian dài mong con không thành công.

Cùng với các bệnh lý thực thể, lối sống hiện đại đang trở thành yếu tố cần được quan tâm. Áp lực công việc, căng thẳng kéo dài, thức khuya, ít vận động, chế độ ăn thiếu cân bằng và thường xuyên sử dụng thực phẩm chế biến sẵn có thể tác động đến hệ nội tiết, qua đó ảnh hưởng tới chất lượng tinh trùng ở nam giới cũng như chất lượng trứng ở phụ nữ.

Các bác sỹ cũng ghi nhận tình trạng vô sinh thứ phát có xu hướng gia tăng. Đây là những trường hợp các cặp vợ chồng từng mang thai hoặc đã sinh con nhưng sau đó gặp khó khăn khi muốn có thai trở lại. Việc từng sinh con vì thế không đồng nghĩa khả năng sinh sản ở những lần tiếp theo luôn được bảo đảm.

Trước xu hướng vô sinh, hiếm muộn trẻ hóa, các chuyên gia cho rằng cách tiếp cận đối với sức khỏe sinh sản cũng cần thay đổi, chuyển từ điều trị khi đã gặp khó khăn sang chủ động dự phòng, phát hiện nguy cơ từ sớm.

Khám sức khỏe sinh sản trước khi kết hôn hoặc khi bắt đầu có kế hoạch sinh con có thể giúp phát hiện những bất thường ở cả nam và nữ, từ đó có phương án theo dõi, điều trị hoặc tư vấn thời điểm sinh con phù hợp. Việc thăm khám càng có ý nghĩa với những người có tiền sử bệnh lý liên quan đến cơ quan sinh sản hoặc gia đình có bệnh di truyền.

Cùng với những tiến bộ trong hỗ trợ sinh sản, lĩnh vực di truyền đang mở thêm cơ hội cho các gia đình có nguy cơ cao. Với những trường hợp từng sảy thai liên tiếp, thai lưu hoặc sinh con mắc bệnh di truyền, xét nghiệm gen có thể hỗ trợ xác định nguyên nhân, đánh giá nguy cơ và lựa chọn hướng xử trí phù hợp.

Đặc biệt, việc phát hiện các đột biến gây bệnh còn hỗ trợ quá trình sàng lọc phôi trước khi chuyển phôi trong những trường hợp có chỉ định, qua đó góp phần giảm nguy cơ truyền một số bệnh di truyền cho thế hệ sau.

TS.Bùi Thị Phương Hoa, Trưởng Phòng Nghiên cứu Khoa học và Đào tạo, phụ trách mảng Di truyền, Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội cho biết, khoảng 80% trường hợp gia đình có bệnh di truyền thường ở dạng gen lặn. Người mang gen có thể hoàn toàn khỏe mạnh nên rất khó nhận biết nếu không thực hiện xét nghiệm.

“Khi cả hai vợ chồng cùng mang một gen lặn, con sinh ra sẽ có nguy cơ mắc bệnh di truyền”, TS.Bùi Thị Phương Hoa lưu ý. Điều này cho thấy một người không có biểu hiện bệnh vẫn có thể mang đột biến gen và truyền cho thế hệ sau. Khi cả vợ và chồng cùng mang gen lặn liên quan đến một bệnh, nguy cơ đối với con cần được đánh giá và tư vấn chuyên môn.

Vì vậy, sàng lọc gen lặn, đặc biệt với các bệnh hiếm, có thể mang lại giá trị trong những trường hợp phù hợp. Nếu chỉ phát hiện bệnh sau khi trẻ chào đời, gia đình có thể phải đối mặt với quá trình điều trị và chăm sóc kéo dài cùng gánh nặng lớn về kinh tế, tâm lý.

Hiện nhiều kỹ thuật xét nghiệm có khả năng sàng lọc hơn 1.000 gen liên quan đến các bệnh di truyền, mở rộng khả năng phát hiện các đột biến có nguy cơ gây bệnh. Tuy nhiên, không phải ai cũng cần thực hiện tất cả các xét nghiệm. Bác sỹ sẽ căn cứ tiền sử bệnh, tiền sử thai kỳ, yếu tố gia đình và nhu cầu của từng người để đưa ra chỉ định phù hợp, tránh xét nghiệm tràn lan.

Bên cạnh các biện pháp chuyên môn, duy trì lối sống lành mạnh vẫn là nền tảng quan trọng để bảo vệ sức khỏe sinh sản. Người trẻ cần hạn chế rượu bia, thuốc lá, tránh thức khuya kéo dài, duy trì vận động, chế độ dinh dưỡng cân bằng và kiểm soát căng thẳng.

Các cặp đôi cũng nên chủ động khám sức khỏe tiền hôn nhân, sức khỏe sinh sản trước khi có kế hoạch mang thai thay vì chỉ tìm đến cơ sở y tế sau một thời gian dài không có con. Khi cần điều trị vô sinh, hiếm muộn, người bệnh nên lựa chọn cơ sở hỗ trợ sinh sản có chuyên môn, đồng thời thận trọng với những quảng cáo về thuốc, thực phẩm bổ sung hoặc phương pháp “chữa vô sinh” thiếu căn cứ khoa học.

Nguy cơ đột tử ở người trẻ

Câu chuyện một nam sinh đạt 26,92 điểm thi, vừa nhận giấy báo trúng tuyển ngành Kỹ thuật Nhiệt của Đại học Bách khoa Hà Nội nhưng đột ngột qua đời sau một cơn đột quỵ khi đang đi làm thêm để dành tiền mua laptop mới đây khiến nhiều người không khỏi xót xa. Sự việc cũng một lần nữa đặt ra cảnh báo về những biến cố tim mạch, mạch máu não có thể xảy ra ở người trẻ - nhóm tuổi thường được xem là khỏe mạnh và ít nguy cơ.

Ths.Đoàn Dư Mạnh, Phó Giám đốc Trung tâm Tim mạch và Đột quỵ Quốc tế, Bệnh viện Đa khoa Phương Đông cho biết, ở người trẻ, đột quỵ có thể xảy ra đột ngột. Do sức khỏe và khả năng chịu đựng còn tốt, nhiều người trước đó gần như không cảm nhận được bất thường rõ ràng. Tuy nhiên, khi biến cố xảy ra, hậu quả có thể rất nặng nề.

Không chỉ đột quỵ não, người trẻ còn cần cảnh giác với đột tử do tim. Đây là tình trạng có thể xảy ra ở cả những người trước đó vẫn học tập, lao động, chơi thể thao và sinh hoạt như bình thường.

Một số trường hợp liên quan đến bất thường bẩm sinh hoặc rối loạn điện học của tim, trong đó có hội chứng Wolff-Parkinson-White (WPW). Những bất thường này có thể gây rối loạn nhịp tim nghiêm trọng, thậm chí dẫn đến ngừng tim đột ngột nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời.

Đáng lưu ý, những yếu tố tưởng như quen thuộc trong đời sống người trẻ như thức đêm kéo dài, làm việc quá sức, lao động nặng hoặc gắng sức cường độ cao có thể trở thành tác nhân khởi phát ở những người đã có sẵn bệnh lý tim mạch tiềm ẩn.

Bên cạnh các bất thường về tim, đột quỵ ở người trẻ còn có thể liên quan đến bệnh lý mạch máu não, trong đó có phình động mạch não. Theo chuyên gia, túi phình có thể tồn tại từ trước trong cơ thể nhưng người bệnh hoàn toàn không biết nếu chưa từng được phát hiện qua thăm khám, chẩn đoán hình ảnh.

Với những người có túi phình mạch não nhưng vẫn tập luyện thể thao cường độ cao, nguy cơ càng cần được lưu ý. Khi chạy marathon, đá bóng hoặc thực hiện những hoạt động gắng sức mạnh, huyết áp có thể tăng nhanh. Trong một số trường hợp, sự gia tăng áp lực này có thể làm tăng nguy cơ túi phình bị vỡ, dẫn đến xuất huyết não, một tình trạng cấp cứu đặc biệt nguy hiểm.

Theo Ths.Đoàn Dư Mạnh, một trong những vấn đề đáng lo ngại là nhiều bệnh lý tim mạch và mạch máu não ở người trẻ chỉ được phát hiện khi đã xảy ra biến cố. Không ít người chưa từng kiểm tra sức khỏe chuyên sâu bởi cho rằng mình còn trẻ, không có triệu chứng và vẫn đủ sức học tập, làm việc bình thường.

Tuy nhiên, việc một người có thể sinh hoạt và lao động như thường ngày không đồng nghĩa với việc hoàn toàn không có nguy cơ. Một số bất thường tim mạch, rối loạn nhịp hoặc túi phình mạch não có thể tồn tại trong thời gian dài mà chưa gây triệu chứng điển hình.

Chính vì vậy, chuyên gia khuyến cáo cả người trẻ và người cao tuổi không nên chủ quan khi xuất hiện các biểu hiện bất thường như đau đầu không rõ nguyên nhân, chóng mặt, ngất đột ngột, hồi hộp, đánh trống ngực hoặc các triệu chứng thần kinh khác.

Khám sức khỏe định kỳ có ý nghĩa quan trọng trong phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ. Với những người có tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch, đột quỵ, đột tử; thường xuyên làm việc cường độ cao; chơi thể thao gắng sức hoặc từng xuất hiện các dấu hiệu bất thường, việc kiểm tra chuyên sâu về tim mạch và mạch máu não càng cần được lưu ý.

Khi người bệnh đột ngột méo miệng, yếu hoặc liệt một bên tay chân, nói khó, rối loạn thị giác, mất thăng bằng hoặc đau đầu dữ dội bất thường, cần nghĩ tới khả năng đột quỵ và nhanh chóng gọi cấp cứu 115 hoặc đưa người bệnh đến cơ sở y tế có khả năng cấp cứu đột quỵ.

“Với bệnh nhân đột quỵ, càng đưa đến bệnh viện sớm càng có cơ hội được điều trị kịp thời. Với ngừng tim đột ngột, cấp cứu ngay từ những phút đầu tiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng”, ThS.BS Đoàn Dư Mạnh nhấn mạnh.

Trong trường hợp nghi ngờ đột quỵ, người xung quanh tuyệt đối không tự ý cho người bệnh uống nước, uống thuốc hoặc áp dụng các biện pháp truyền miệng như chích máu đầu ngón tay, day bóp, cạo gió. Những cách xử trí này không giải quyết được nguyên nhân của biến cố, thậm chí có thể làm chậm thời gian đưa người bệnh đến cơ sở y tế, khiến cơ hội điều trị trong “thời gian vàng” bị thu hẹp.

Với trường hợp ngừng tim đột ngột, từng phút đều có ý nghĩa đối với khả năng sống còn. Việc nhận diện nhanh tình trạng mất ý thức, không thở bình thường, gọi cấp cứu và thực hiện hồi sức tim phổi đúng cách trong lúc chờ nhân viên y tế có thể tạo ra khác biệt lớn đối với cơ hội sống của người bệnh.

Những biến cố xảy ra ở người trẻ cho thấy tuổi tác không phải là “tấm lá chắn” tuyệt đối trước đột quỵ hay đột tử do tim. Một cơ thể vẫn khỏe mạnh bên ngoài có thể tồn tại những bất thường chưa được phát hiện. Vì vậy, bên cạnh duy trì lối sống điều độ, hạn chế thức khuya, tránh làm việc và vận động quá sức, chủ động khám sức khỏe và không bỏ qua những dấu hiệu bất thường là cách quan trọng để nhận diện nguy cơ trước khi biến cố xảy ra.

Giải mã những yếu tố quyết định hành trình tăng trưởng chiều cao của trẻ

Bệnh nhi Quang Anh, 12 tuổi, được gia đình đưa đến viện khám vì chiều cao tăng rất chậm trong khoảng ba năm, đặc biệt gần như không thay đổi trong 18 tháng gần nhất.

Theo chia sẻ của mẹ, gia đình thường xuyên theo dõi chiều cao của trẻ bằng thước gắn tường. Nhận thấy con tăng trưởng chậm, gia đình từng tự bổ sung canxi và một số vi chất với hy vọng cải thiện chiều cao nhưng không thấy hiệu quả.

Quang Anh có thể lực tốt, thường xuyên chơi bóng đá và bóng rổ. Gần đây, trẻ thỉnh thoảng xuất hiện đau đầu, buồn nôn nhưng vẫn sinh hoạt bình thường.

Qua thăm khám, ThS.BS Đỗ Tiến Sơn, Khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội ghi nhận trẻ cao 142 cm, nặng 39,2 kg, BMI 19,4 kg/m², vẫn nằm trong ngưỡng phù hợp theo tuổi nhưng chiều cao thấp hơn đường tăng trưởng chung. Theo chuẩn tăng trưởng của Tổ chức Y tế Thế giới, chiều cao trung bình của trẻ trai 12 tuổi khoảng 149,1 cm. Ở giai đoạn này, trẻ có thể tăng khoảng 5-6 cm mỗi năm và tốc độ tăng trưởng thường nhanh hơn khi bước vào dậy thì.

Với chiều cao của bố là 1,67 m và mẹ là 1,60 m, chiều cao mục tiêu khi trưởng thành của Quang Anh được ước tính khoảng 170 cm. Do tốc độ tăng trưởng chiều cao thấp kéo dài, lại kèm đau đầu và buồn nôn, bác sỹ chỉ định xét nghiệm đánh giá trục hormone tăng trưởng, chức năng nội tiết, các chỉ số dinh dưỡng và chụp cộng hưởng từ sọ não nhằm loại trừ nguyên nhân bệnh lý. Kết quả chưa ghi nhận bất thường đáng kể về nội tiết hoặc tổn thương não.

Sau khi các nguyên nhân bệnh lý chính được loại trừ, trẻ được chuyển sang đánh giá chuyên sâu về dinh dưỡng và lối sống. Gia đình cho biết Quang Anh chơi bóng đá từ nhỏ, hiện duy trì mức vận động khá cao và đồng thời tham gia bóng rổ tại trường. Tuy nhiên, cường độ và thời lượng vận động trong những năm trước không được ghi nhận cụ thể.

Qua khai thác khẩu phần và mức độ vận động gần đây, TS.Trần Quyền An, chuyên gia dinh dưỡng, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội nhận thấy trẻ chỉ nạp khoảng 1.800-2.000 kcal và 0,8-1 g protein/kg cân nặng mỗi ngày. Trong khi đó, dựa trên tuổi, thể trạng và mức độ vận động hiện tại, nhu cầu năng lượng của trẻ được ước tính khoảng 2.700 kcal/ngày.

Theo TS An, khẩu phần như vậy chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu năng lượng và một số chất dinh dưỡng cần thiết cho cả vận động thể lực lẫn quá trình tăng trưởng. Khi tình trạng cung cấp năng lượng thấp hơn nhu cầu kéo dài, đây có thể là một trong những yếu tố góp phần làm chậm tốc độ phát triển chiều cao.

Tuy nhiên, bác sỹ cũng lưu ý rất khó xác định chính xác mức độ thiếu hụt năng lượng trong những năm trước do gia đình không có số liệu cụ thể về khẩu phần và cường độ vận động ở từng thời điểm. Vì vậy, việc đánh giá được thực hiện dựa trên tình trạng sức khỏe, khẩu phần và mức vận động thực tế gần đây để xây dựng kế hoạch phù hợp.

Quang Anh sau đó được thiết kế chế độ dinh dưỡng cá thể hóa dựa trên nhu cầu, thói quen ăn uống, sở thích và lịch vận động. Khẩu phần được điều chỉnh nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu năng lượng và protein, đồng thời bảo đảm đa dạng các nhóm thực phẩm.

Thực đơn ưu tiên các nguồn đạm chất lượng như thịt nạc, cá, trứng, sữa; bổ sung rau xanh, trái cây và thực phẩm giàu carbohydrate. Trẻ duy trì ba bữa chính cùng các bữa phụ phù hợp với lịch học và tập luyện, uống đủ nước và không tự ý sử dụng thực phẩm chức năng hay sản phẩm được quảng cáo giúp tăng chiều cao.

Bên cạnh dinh dưỡng, trẻ được khuyến khích ngủ trước 22 giờ, bảo đảm thời lượng ngủ phù hợp với lứa tuổi, duy trì vận động hợp lý và tăng hoạt động ngoài trời. Gia đình được hướng dẫn theo dõi chiều cao, cân nặng định kỳ và tái khám sau mỗi 3-4 tháng.

Sau bốn tháng thực hiện kế hoạch, Quang Anh đạt chiều cao 145,2 cm, tăng 3,2 cm so với thời điểm ban đầu; cân nặng tăng 3,5 kg. BMI vẫn nằm trong giới hạn phù hợp với tuổi. Tốc độ tăng chiều cao trong giai đoạn theo dõi cũng cải thiện rõ so với thời gian trước can thiệp.

TS.An cho biết, cơ thể trẻ đang phát triển cần đủ năng lượng và chất dinh dưỡng để đồng thời duy trì các hoạt động sống, vận động và tăng trưởng. Khi năng lượng cung cấp thấp hơn nhu cầu trong thời gian dài, cơ thể có thể ưu tiên năng lượng cho những chức năng thiết yếu, từ đó ảnh hưởng đến các quá trình như tăng trưởng và phát triển.

Quang Anh đang bước vào giai đoạn dậy thì, thời điểm có tiềm năng tăng trưởng chiều cao mạnh. Vì vậy, bảo đảm khẩu phần phù hợp, kết hợp tối ưu giấc ngủ, vận động và các yếu tố lối sống có ý nghĩa quan trọng để trẻ phát huy tốt tiềm năng tăng trưởng.

Theo TS.An, không phải mọi trường hợp trẻ chậm tăng chiều cao đều liên quan đến thiếu canxi. Chiều cao chịu tác động đồng thời của di truyền, dinh dưỡng, hormone, tuổi xương, giai đoạn dậy thì, giấc ngủ, vận động và một số bệnh lý.

Do đó, tự ý bổ sung canxi, vi chất hoặc sử dụng các sản phẩm quảng cáo tăng chiều cao khi chưa xác định nguyên nhân có thể không mang lại hiệu quả, thậm chí không cần thiết. Mức cải thiện chiều cao sau can thiệp cũng khác nhau ở mỗi trẻ, tùy nguyên nhân gây chậm tăng trưởng, tuổi xương, giai đoạn dậy thì, tiềm năng di truyền và thời điểm được can thiệp.

Các bác sỹ khuyến cáo phụ huynh nên đo chiều cao và cân nặng của trẻ định kỳ bằng phương pháp thống nhất, đồng thời theo dõi trên biểu đồ tăng trưởng. Nếu nhận thấy chiều cao tăng chậm rõ rệt, đường tăng trưởng đi xuống hoặc trẻ phát triển khác biệt đáng kể so với trước đây, cần đưa trẻ đi khám để tìm nguyên nhân thay vì tự bổ sung các sản phẩm hỗ trợ tăng chiều cao.

Với trẻ em, điều quan trọng không chỉ là đạt được một con số chiều cao nhất định, mà là duy trì tốc độ tăng trưởng phù hợp trong từng giai đoạn. Khi phát hiện sớm bất thường và can thiệp đúng nguyên nhân, cơ hội tối ưu tiềm năng phát triển của trẻ sẽ cao hơn.

Tin liên quan
Tin khác