Người trẻ cũng đối mặt với ung thư tuyến giáp
Mệt mỏi, rụng tóc nhiều khiến chị Trần Bội N., 34 tuổi, ở Tây Ninh đi kiểm tra sức khỏe. Kết quả thăm khám sau đó phát hiện chị mắc ung thư tuyến giáp. Dựa trên đặc điểm tổn thương ở cả hai thùy, các bác sỹ chỉ định cắt toàn bộ tuyến giáp.
Bên cạnh yêu cầu loại bỏ tổn thương, ê-kíp lựa chọn phương pháp phẫu thuật nội soi qua các đường vào nhỏ vùng ngực - nách thay cho đường mổ phía trước cổ, qua đó hạn chế sẹo vùng cổ và hỗ trợ quá trình hồi phục sau phẫu thuật.
| Một khối bất thường ở vùng cổ, nhân tuyến giáp phát hiện qua siêu âm hay những thay đổi kéo dài cần được đánh giá đúng mức, thay vì chủ quan vì tuổi còn trẻ hoặc hoang mang trước mọi tổn thương. |
Ca mổ phức tạp hơn do người bệnh có tiền sử viêm giáp Hashimoto kéo dài. Bác sỹ chuyên khoa I Tôn Nữ Phương Duyên, Khoa Ngoại Tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Việt Mỹ, TP.HCM cho biết, tình trạng viêm mạn tính có thể làm mô tuyến giáp viêm xơ, dính, gây khó khăn cho quá trình bóc tách và nhận diện những cấu trúc quan trọng.
Trong quá trình phẫu thuật, ê-kíp tập trung nhận diện, bảo tồn thần kinh thanh quản quặt ngược và các tuyến cận giáp. Đây là những cấu trúc có vai trò quan trọng đối với chức năng phát âm và cân bằng canxi của cơ thể, tổn thương trong quá trình phẫu thuật có thể dẫn tới những biến chứng ảnh hưởng đến người bệnh.
Ca phẫu thuật diễn ra thuận lợi, thần kinh thanh quản quặt ngược và các tuyến cận giáp được bảo tồn. Sau mổ, người bệnh tỉnh táo, sinh hiệu ổn định, vết mổ tiến triển tốt, không ghi nhận dấu hiệu tổn thương thần kinh thanh quản quặt ngược hay hạ canxi. Chị có thể vận động, ăn uống sớm và xuất viện vào ngày thứ hai.
Ung thư tuyến giáp là bệnh lý ác tính hình thành từ các tế bào của tuyến giáp. Đáng chú ý, bệnh không chỉ gặp ở người lớn tuổi. Một số trường hợp ở người trẻ có thể không xuất hiện triệu chứng rõ rệt và chỉ tình cờ được phát hiện qua siêu âm hoặc trong quá trình kiểm tra sức khỏe.
Bác sỹ Duyên cho biết thực tế điều trị đã ghi nhận những bệnh nhân ung thư tuyến giáp ở độ tuổi rất trẻ, gần đây có trường hợp sinh năm 2007. Tuổi tác do đó không phải căn cứ để loại trừ nguy cơ mắc bệnh.
Tuy nhiên, phát hiện nhân tuyến giáp cũng không đồng nghĩa với ung thư. Phần lớn các trường hợp cần được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố trước khi bác sỹ đưa ra quyết định điều trị.
Sau khi phát hiện nhân tuyến giáp, bác sỹ sẽ xem xét kích thước, hình thái và các đặc điểm của tổn thương trên siêu âm, đồng thời đánh giá những yếu tố nguy cơ liên quan. Với những trường hợp cần làm rõ bản chất tổn thương, người bệnh có thể được chỉ định chọc hút tế bào để phục vụ chẩn đoán.
Không phải mọi nhân tuyến giáp đều là tổn thương ác tính và cũng không phải trường hợp nào phát hiện nhân tuyến giáp cũng cần phẫu thuật. Việc điều trị phụ thuộc vào kết quả đánh giá cụ thể của từng người bệnh.
“Tuổi trẻ không đồng nghĩa với việc không mắc ung thư. Thực tế, chúng tôi cũng tiếp nhận những trường hợp ung thư tuyến giáp ở người rất trẻ. Tuy nhiên, không phải mọi nhân tuyến giáp đều là ung thư. Người bệnh không nên chủ quan nhưng cũng không cần quá lo lắng mà nên thăm khám để được đánh giá đúng tình trạng”, bác sỹ Duyên khuyến cáo.
Người có thay đổi bất thường tại vùng cổ hoặc đã được phát hiện bệnh lý tuyến giáp cần chủ động thăm khám, thực hiện các xét nghiệm cần thiết và tuân thủ hướng dẫn chuyên môn. Việc tự suy đoán mức độ nguy hiểm của một nhân tuyến giáp hoặc trì hoãn kiểm tra có thể ảnh hưởng tới quá trình chẩn đoán và lựa chọn phương án điều trị.
Với người đã điều trị ung thư tuyến giáp, quá trình chăm sóc không kết thúc sau phẫu thuật. Tùy đặc điểm bệnh và nguy cơ tái phát, bác sỹ có thể chỉ định hormone tuyến giáp, iod phóng xạ trong những trường hợp phù hợp, kết hợp siêu âm vùng cổ và các xét nghiệm phục vụ theo dõi.
Mỗi người bệnh có đặc điểm tổn thương và mức nguy cơ khác nhau nên kế hoạch điều trị, tái khám cũng cần được cá thể hóa. Theo dõi lâu dài giúp bác sỹ đánh giá đáp ứng điều trị, phát hiện những bất thường cần can thiệp và điều chỉnh phương án phù hợp trong từng giai đoạn.
Đừng chủ quan với khối u lớn dần nhưng không đau
Bệnh nhân Đ.Đ.T., 39 tuổi, Hà Nội đi khám sau khoảng một năm nhận thấy vùng đùi phải lớn dần bất thường. Điều đáng chú ý là suốt thời gian khối u phát triển, người bệnh không đau, không sưng, nóng, đỏ, không hạn chế vận động và cũng không có tiền sử chấn thương tại vùng đùi.
Qua thăm khám, khối bất thường ước tính khoảng 12 cm, vòng đùi phải tại vị trí có khối u lớn hơn bên đối diện tới 10 cm. Khối có mật độ mềm, ít di động, ranh giới khó xác định, ấn không đau, vùng da phía trên không có biểu hiện bất thường.
Ths.Mạc Thùy Chi, chuyên khoa Cơ Xương Khớp, MEDLATEC cho biết dấu hiệu đáng lưu ý ở trường hợp này là khối u đã tồn tại trong thời gian dài, liên tục tăng kích thước nhưng hầu như không gây triệu chứng rõ rệt.
Kết quả siêu âm ghi nhận khối phần mềm kích thước khoảng 12,2 x 6,3 cm, trong lúc X-quang chưa phát hiện bất thường. Người bệnh tiếp tục được chụp cộng hưởng từ MRI để đánh giá kỹ hơn tổn thương.
Hình ảnh MRI phát hiện khối mô mềm lớn dưới da, ở mặt sau trong 1/3 dưới đùi phải, kích thước khoảng 15,2 x 9,1 x 8,5 cm. Khối có cấu trúc không đồng nhất, chứa thành phần mỡ xen kẽ các vách và vùng mô đặc. Sau tiêm thuốc đối quang từ, các vách và thành phần mô đặc tăng ngấm thuốc.
Tổng hợp những đặc điểm hình ảnh khiến bác sỹ nghĩ tới u mô mềm, trong đó có khả năng sarcoma mỡ và chỉ định sinh thiết nhằm xác định bản chất tổn thương.
Bác sỹ Chi cho biết MRI có thể giúp đánh giá vị trí, kích thước, thành phần cũng như mối liên quan của khối u với các cấu trúc xung quanh, song kết quả hình ảnh chủ yếu mang tính định hướng. Với tổn thương nghi ngờ ác tính, sinh thiết và giải phẫu bệnh có vai trò quyết định để xác lập chẩn đoán.
Kết quả giải phẫu bệnh từ mẫu sinh thiết phù hợp với myxoid liposarcoma, hay sarcoma mỡ nhầy, một dạng ung thư mô mềm hiếm gặp. Mẫu bệnh phẩm ghi nhận các tế bào bất thường nằm rải rác trong nền mô nhầy, xen kẽ mạng lưới mạch máu nhỏ đặc trưng cùng một số tế bào chứa giọt mỡ.
Sau khi xác định sarcoma mỡ nhầy độ thấp, bệnh nhân được phẫu thuật cắt bỏ khối u. Bệnh phẩm sau phẫu thuật tiếp tục được đánh giá về đặc điểm mô học và diện cắt, làm căn cứ xác định nguy cơ tái phát cũng như kế hoạch điều trị, theo dõi tiếp theo.
Sarcoma là nhóm ung thư hiếm gặp hình thành từ các mô liên kết của cơ thể và có thể xuất hiện ở nhiều độ tuổi. Sarcoma mô mềm có thể phát triển tại nhiều vị trí, các chi là một trong những khu vực thường gặp. Riêng myxoid liposarcoma có xu hướng xuất hiện ở chi dưới, đặc biệt vùng đùi.
Một đặc điểm dễ khiến người bệnh chủ quan là khối u có thể phát triển trong thời gian dài mà ít gây đau hoặc các triệu chứng ban đầu không rõ rệt. Người bệnh đôi lúc chỉ nhận thấy một vùng trên cơ thể lớn dần hoặc xuất hiện khối bất thường dưới da.
Khối u phát triển lớn hơn có thể gây cảm giác căng tức, nặng hoặc hạn chế vận động do chèn ép những cấu trúc xung quanh. Việc không đau do đó không đồng nghĩa với tổn thương lành tính.
Bác sỹ Chi cho biết sarcoma hình thành do những biến đổi ở tế bào làm quá trình tăng sinh mất kiểm soát. Phần lớn sarcoma mô mềm xuất hiện tự phát và không thể xác định một nguyên nhân đơn lẻ. Một số yếu tố nguy cơ được ghi nhận gồm tiền sử xạ trị, một số hội chứng di truyền hiếm hoặc những dạng phơi nhiễm đặc biệt.
Sau chẩn đoán, người bệnh cần được đánh giá giai đoạn, mức độ lan rộng và các đặc điểm của khối u trước khi xây dựng phương án điều trị. Tiên lượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kích thước, vị trí, mức độ lan rộng, đặc điểm mô bệnh học và đáp ứng điều trị.
Đối với sarcoma mô mềm còn khu trú và có khả năng phẫu thuật, cắt bỏ hoàn toàn khối u với mục tiêu đạt diện cắt âm tính giữ vai trò nền tảng. Tùy vị trí, kích thước, độ mô học và nguy cơ tái phát, bác sỹ có thể cân nhắc thêm xạ trị hoặc điều trị toàn thân. Người bệnh cũng cần được theo dõi lâu dài do khối u có khả năng tái phát hoặc di căn.
Từ trường hợp bệnh nhân 39 tuổi, bác sỹ khuyến cáo không nên bỏ qua một khối bất thường chỉ vì không gây đau. Khối phần mềm tiếp tục tăng kích thước, nằm sâu hoặc có kích thước khoảng 5 cm trở lên cần được thăm khám và đánh giá sớm.
Nếu tổn thương có dấu hiệu nghi ngờ sarcoma, sinh thiết cũng cần được bác sỹ chuyên khoa chỉ định và lên kế hoạch phù hợp. Vị trí cũng như đường lấy mẫu sinh thiết có thể liên quan trực tiếp đến phương án phẫu thuật sau đó, do vậy người bệnh không nên tự trì hoãn hoặc thực hiện các can thiệp vào khối u trước khi được đánh giá đầy đủ.
Từ viêm phổi nặng phát hiện bệnh phổi liên quan tự miễn
Ông Kinh, 60 tuổi, An Giang, có tiền sử đái tháo đường type 2 hơn 26 năm, tăng huyết áp và từng điều trị lao phổi trong 6 tháng. Khoảng một tuần trước lúc nhập viện, ông xuất hiện đau họng, đau đầu, sau đó mệt, ho, khạc ít đàm và khó thở tăng dần.
Đến ngày nhập viện, nồng độ oxy trong máu SpO2 giảm còn 82%. Tình trạng suy hô hấp diễn tiến nhanh, người bệnh phải chuyển tới khoa Hồi sức tích cực - Chống độc.
Các bác sỹ xác định người bệnh bị viêm phổi nặng, suy hô hấp, đồng thời đái tháo đường kiểm soát kém với HbA1c ở mức 10,92%. Ông được hỗ trợ hô hấp bằng oxy lưu lượng cao qua mũi, kết hợp kháng sinh, corticoid, thuốc giãn phế quản, chống đông và kiểm soát đường huyết.
Quá trình điều trị cho thấy tổn thương ở phổi không đơn thuần xuất phát từ một đợt viêm phổi cấp. Ths.Nguyễn Thanh Thùy, khoa nội tổng hợp khi thăm khám cho bệnh nhân cho biết, hình ảnh chụp CT ghi nhận tổn thương kính mờ lan tỏa tại nhu mô hai phổi dạng “lát đá”, kèm một số vùng đông đặc nhỏ. Phổi cũng xuất hiện tình trạng dày mô kẽ rải rác, giãn phế quản ngoại vi và khí phế thũng.
Những bất thường này khiến các bác sỹ tiếp tục tìm nguyên nhân bằng các xét nghiệm miễn dịch, trong đó có những xét nghiệm liên quan tới viêm đa cơ tự miễn và bệnh phổi mô kẽ.
Kết quả ghi nhận hai kháng thể EJ và Mi-2β dương tính. Kháng thể EJ có liên quan tới hội chứng kháng synthetase, một nhóm bệnh tự miễn có thể gây tổn thương phổi mô kẽ, thậm chí biểu hiện ở phổi có thể xuất hiện sớm. Trong khi đó, Mi-2β thường liên quan tới nhóm viêm cơ tự miễn, đặc biệt là viêm da cơ.
Kết hợp kết quả xét nghiệm với những tổn thương trên CT, các bác sỹ xác định người bệnh mắc bệnh phổi mô kẽ có yếu tố liên quan tự miễn. Đợt viêm phổi nặng đã khiến tình trạng tổn thương phổi sẵn có diễn tiến cấp tính và cũng là lý do bệnh được phát hiện.
Sau 10 ngày điều trị, chức năng hô hấp của người bệnh cải thiện rõ rệt. Ông hết ho, sốt, khó thở, có thể ăn uống, đi lại bình thường và được xuất viện.
Bệnh phổi mô kẽ không phải một bệnh duy nhất mà bao gồm một nhóm bệnh gây tổn thương mô và cấu trúc bao quanh các phế nang, khu vực đảm nhiệm quá trình trao đổi oxy và CO2 của phổi.
Tổn thương có thể gây viêm, làm mô phổi dày lên hoặc tiến triển thành xơ hóa. Phổi dần mất độ đàn hồi, khả năng đưa oxy vào máu suy giảm, dẫn tới khó thở, mệt mỏi và giảm khả năng gắng sức.
Một số trường hợp bệnh phổi mô kẽ có liên quan đến bệnh tự miễn. Hệ miễn dịch vốn có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể xuất hiện những phản ứng bất thường, tác động tới chính các mô và cơ quan của người bệnh, trong đó phổi có thể là một trong những cơ quan chịu tổn thương.
Đáng chú ý, tổn thương phổi đôi lúc xuất hiện trước những biểu hiện tự miễn rõ ràng ở các cơ quan khác. Điều này khiến việc xác định nguyên nhân cần kết hợp triệu chứng lâm sàng, hình ảnh phổi cùng các xét nghiệm chuyên sâu thay vì chỉ dựa vào một dấu hiệu riêng lẻ.
Bác sỹ Thùy lưu ý tình trạng hết ho hoặc hết khó thở sau điều trị không đồng nghĩa bệnh phổi mô kẽ đã khỏi hoàn toàn. Mức độ tổn thương phổi có thể thay đổi theo thời gian nên người bệnh cần tiếp tục được theo dõi. Với trường hợp liên quan yếu tố tự miễn, bác sỹ sẽ căn cứ nguyên nhân, mức độ tổn thương và diễn biến bệnh để xây dựng phương án điều trị phù hợp.
Bệnh phổi mô kẽ, đặc biệt những thể liên quan đến yếu tố tự miễn, không phải lúc nào cũng có thể phòng ngừa. Người dân có thể giảm các yếu tố bất lợi đối với hệ hô hấp bằng cách không hút thuốc, tránh khói thuốc, hạn chế tiếp xúc lâu dài với bụi, hóa chất, nấm mốc và sử dụng phương tiện bảo hộ trong môi trường làm việc có nguy cơ.
Tiêm chủng các vắc-xin phòng bệnh hô hấp theo khuyến cáo cũng góp phần giảm nguy cơ nhiễm trùng khiến tình trạng phổi trở nên nghiêm trọng hơn.
Khó thở kéo dài, ho dai dẳng, nhanh mệt lúc vận động hoặc những triệu chứng hô hấp tái diễn cần được thăm khám để tìm nguyên nhân. Người cao tuổi hoặc có bệnh nền như đái tháo đường, tim mạch, bệnh phổi càng cần được đánh giá sớm nếu triệu chứng tiến triển bất thường, thay vì tự điều trị kéo dài.