Biến chứng bàn chân do đái tháo đường
Bà Kim, 68 tuổi, ở Tây Ninh, mắc đái tháo đường type 2 hơn 10 năm. Dù đã được bác sỹ kê thuốc điều trị, do tuổi cao, thường hay quên, bà không duy trì uống thuốc đều đặn và cũng chưa kiểm soát tốt chế độ ăn.
Khoảng một năm trở lại đây, hai chân bà thường xuyên xuất hiện cảm giác tê rần như kiến bò, nhiều lúc khô ráp như đang đi trên cát. Đáng chú ý, khả năng cảm nhận đau cũng như nóng, lạnh ở bàn chân giảm rõ rệt.
Ban đầu, bà tự thoa dầu nhiều lần nhưng tình trạng không cải thiện. Nghe người quen mách ngâm chân có thể giảm tê buốt, bà đun nước lá trầu không, ngải cứu, gừng... rồi ngâm chân hằng ngày.
| Ảnh minh họa |
Sau khoảng một tháng liên tục áp dụng cách này, bà nhận thấy chân bắt đầu chảy dịch mủ và lúc đó mới phát hiện bàn chân đã xuất hiện vết loét.
Bà tiếp tục tự mua kháng sinh và rửa vết thương bằng nước muối nhưng không cải thiện. Vết loét ngày càng nặng, khiến bà không thể tự đứng lên, đi lại. Khi hai ngón chân trái chuyển màu bầm tím, gia đình mới đưa bà đến bệnh viện thăm khám.
BS.CKI Phạm Thị Thu Hà chuyên khoa nội tiết đái tháo đường cho biết, bệnh nhân nhập viện trong tình trạng biến chứng bàn chân đái tháo đường rất nặng, đường huyết không ổn định.
Khi vệ sinh và đánh giá vết thương, các bác sỹ nhận thấy vết loét đã ăn sâu đến xương, kéo xuống gần hết gan bàn chân trái. Hai ngón chân đã hoại tử hoàn toàn.
Các bác sỹ tiến hành cắt lọc mô hoại tử, kiểm soát dịch tiết và áp dụng các biện pháp ngăn nhiễm trùng tiến triển. Tuy nhiên, tình trạng bàn chân vẫn diễn biến xấu. “Toàn bộ bàn chân của người bệnh đã lạnh, dấu hiệu cho thấy máu không tưới đều được lên chi, nguy cơ cắt cụt đến cổ chân rất lớn. Nếu nhiễm trùng lan rộng sẽ nguy hiểm đến tính mạng”, bác sỹ Hà cho biết.
Từ một thói quen tưởng như đơn giản để giảm cảm giác tê buốt, bệnh nhân đứng trước nguy cơ mất bàn chân. Tuy nhiên, vấn đề đáng lưu ý không chỉ nằm ở việc ngâm nước nóng mà còn ở biến chứng thần kinh, tuần hoàn và khả năng lành thương suy giảm ở người mắc đái tháo đường lâu năm, đặc biệt khi đường huyết không được kiểm soát tốt.
Theo bác sỹ Hà, kiểm soát đường huyết kém có thể khiến các biến chứng của đái tháo đường tiến triển nhanh và nặng hơn. Da chân của người bệnh thường khô, dễ nứt nẻ, làm suy yếu hàng rào bảo vệ tự nhiên. Nếu ngâm chân lâu, da mềm hơn, dễ trầy xước, từ đó tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây nhiễm trùng. Trong khi đó, vết thương ở người mắc đái tháo đường thường khó lành hơn.
Nguy hiểm hơn, biến chứng thần kinh ngoại biên có thể làm suy giảm khả năng cảm nhận đau, nóng và lạnh. Người bệnh vì thế có thể bị bỏng do nước quá nóng nhưng không nhận ra, hoặc xuất hiện vết trầy xước, phồng rộp mà không có cảm giác đau cảnh báo.
Đây cũng là tình trạng xảy ra với bà Kim. Người bệnh đã có biến chứng ở bàn chân nhưng không nhận biết. Khả năng cảm nhận nhiệt độ suy giảm khiến việc ngâm nước nóng hoặc ngâm quá lâu có thể gây tổn thương mà bản thân bệnh nhân không cảm thấy rõ.
Khi những tổn thương nhỏ không được phát hiện và chăm sóc đúng cách, chúng có thể tiến triển thành loét, nhiễm trùng, hoại tử. Nếu tổn thương lan rộng hoặc nguồn máu nuôi chi không bảo đảm, nguy cơ phải cắt cụt một phần bàn chân, bàn chân hoặc chi có thể được đặt ra.
Trường hợp của bà Kim cho thấy một nghịch lý nguy hiểm ở bàn chân đái tháo đường: tổn thương có thể ngày càng nặng trong khi người bệnh lại không cảm nhận đầy đủ mức độ nghiêm trọng do suy giảm cảm giác.
Vì vậy, với người mắc đái tháo đường, việc “không đau” không đồng nghĩa bàn chân vẫn an toàn. Những biểu hiện như tê bì, châm chích, cảm giác kiến bò, giảm cảm nhận nóng lạnh hoặc thay đổi bất thường trên da cần được lưu ý, nhất là ở người đã mắc bệnh nhiều năm.
Bác sỹ Hà nhấn mạnh tuân thủ điều trị và kiểm soát đường huyết có vai trò quan trọng. Người bệnh không nên tự ý bỏ thuốc, thay đổi phác đồ hoặc áp dụng các phương pháp chữa bệnh truyền miệng khi chưa được nhân viên y tế hướng dẫn.
Biến chứng bàn chân đái tháo đường nguy hiểm nhưng nhiều yếu tố nguy cơ có thể được phòng ngừa bằng việc chăm sóc bàn chân hằng ngày. Người bệnh cần thường xuyên quan sát toàn bộ bàn chân để phát hiện sớm vết nứt, phồng rộp, vết chai mới xuất hiện hoặc các bất thường khác.
Bàn chân nên được vệ sinh bằng nước sạch và xà phòng, sau đó lau khô nhẹ nhàng bằng khăn mềm, đặc biệt ở các kẽ ngón. Giày dép cần vừa vặn, thoải mái, không bó sát hoặc có những chi tiết bên trong gây cọ xát, phồng rộp. Người bệnh cũng không nên đi chân trần, tự cắt bỏ vết chai hoặc sử dụng thuốc xử lý vết chai khi chưa có hướng dẫn chuyên môn.
Đặc biệt, bác sỹ khuyến cáo không tự ngâm chân trong nước nóng hoặc các loại nước lá khi xuất hiện đau nhức, tê bì mà chưa được đánh giá nguyên nhân. Với người đã suy giảm cảm giác ở bàn chân, việc tự kiểm tra nhiệt độ nước có thể không còn chính xác, làm tăng nguy cơ bỏng và tổn thương da.
Khi xuất hiện tê, nhức hoặc bất thường ở bàn chân nghi liên quan đến biến chứng đái tháo đường, người bệnh cần được thăm khám chuyên khoa để đánh giá sớm thay vì tìm cách làm giảm triệu chứng tại nhà.
Từ một vết bỏng, vết xước hay vùng da phồng rộp tưởng chừng không đáng kể, người mắc đái tháo đường có thể phải đối mặt với chuỗi biến chứng từ loét, nhiễm trùng đến hoại tử và cắt cụt chi. Bởi vậy, chăm sóc bàn chân cần được xem là một phần thiết yếu trong quản lý đái tháo đường lâu dài, thay vì chỉ được quan tâm khi vết thương đã xuất hiện.
Cảnh báo triệu trứng lồng ruột cấp tính ở trẻ
Đau bụng, quấy khóc, nôn trớ ở trẻ nhỏ dễ khiến cha mẹ nghĩ đến rối loạn tiêu hóa. Tuy nhiên, đây cũng có thể là dấu hiệu của lồng ruột - một cấp cứu ngoại khoa có nguy cơ dẫn tới hoại tử, thủng ruột, viêm phúc mạc nếu phát hiện muộn.
Tưởng con chỉ bị rối loạn tiêu hóa, gia đình bệnh nhi L.H.Đ., 18 tháng tuổi, ở Phú Thọ tự mua men tiêu hóa cho trẻ uống. Chỉ đến khi những cơn đau bụng ngày càng dồn dập, trẻ mệt mỏi, gia đình mới đưa đến Phòng khám Đa khoa MEDLATEC Vĩnh Phúc và bất ngờ khi được bác sỹ chẩn đoán lồng ruột cấp tính.
Trước đó, vào đêm trước ngày đi khám, trẻ bắt đầu xuất hiện những cơn đau bụng bất thường. Mỗi lần đau, bé khóc thét, ưỡn người, kèm nôn trớ liên tục, ăn vào lại nôn ra dịch lẫn thức ăn. Sau khi uống men tiêu hóa, tình trạng không cải thiện. Đến trưa hôm sau, thấy con mệt hơn và các cơn đau xuất hiện dồn dập, gia đình mới đưa trẻ đi khám.
Qua thăm khám, bác sỹ phát hiện một khối bất thường ở vùng hạ sườn phải, dù bụng trẻ vẫn mềm và chưa có phản ứng thành bụng. Bệnh nhi lập tức được chỉ định siêu âm và chụp X-quang ổ bụng.
Kết quả X-quang chưa ghi nhận dấu hiệu bất thường rõ rệt, các quai ruột không giãn, chưa thấy mức nước hơi hay liềm khí dưới hoành. Tuy nhiên, siêu âm phát hiện khối lồng ruột ở vùng hạ sườn phải, đường kính ngang khoảng 29 mm, kéo dài trên đoạn 43 mm. Bên trong khối lồng có hạch mạc treo kích thước 7,5 x 4 mm, chưa xuất hiện dịch tự do trong khối lồng cũng như ổ bụng.
Kết hợp biểu hiện lâm sàng và kết quả siêu âm, bác sỹ xác định bệnh nhi bị lồng ruột, chưa có biến chứng, ở giờ thứ 15 kể từ khi khởi phát. Trẻ được chuyển khẩn cấp đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh để thực hiện thủ thuật tháo lồng.
Nhờ được phát hiện trước khi xuất hiện những biến chứng nặng, bệnh nhi được bơm hơi tháo lồng thuận lợi. Sau 24 giờ, kết quả kiểm tra cho thấy khối lồng đã hoàn toàn mất, lưu thông tiêu hóa phục hồi tốt và trẻ được xuất viện an toàn.
Lồng ruột là tình trạng một đoạn ruột chui vào lòng đoạn ruột kế cận. Đây là một trong những cấp cứu ngoại khoa thường gặp ở trẻ em, đặc biệt ở trẻ dưới 2 tuổi. Bé trai có tỷ lệ mắc cao gấp khoảng hai lần bé gái.
Khoảng 90-95% trường hợp lồng ruột ở trẻ là nguyên phát, không tìm thấy nguyên nhân thực thể và thường liên quan đến sự co bóp bất thường của nhu động ruột. Khoảng 5-10% trường hợp còn lại có thể liên quan đến các bất thường bẩm sinh hoặc tổn thương thực thể như túi thừa Meckel, nang ruột đôi, polyp hoặc khối u ruột. Lồng hồi - đại tràng là dạng thường gặp nhất, chiếm khoảng 85% số ca.
Điều đáng lưu ý là mức độ tổn thương ruột liên quan chặt chẽ tới thời gian phát hiện và xử trí. Trong 24 giờ đầu, đoạn ruột bị lồng bắt đầu bị thắt lại, gây phù nề và xuất huyết. Từ 24-48 giờ, tình trạng phù nề, sung huyết và xuất huyết có thể trở nên nghiêm trọng hơn. Nếu kéo dài trên 48 giờ, tuần hoàn tại đoạn ruột bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nguy cơ dẫn tới nhồi máu, hoại tử, thủng ruột, viêm phúc mạc, sốc nhiễm trùng, thậm chí đe dọa tính mạng.
Trong khi đó, triệu chứng ban đầu lại dễ khiến gia đình nhầm với các rối loạn tiêu hóa thường gặp. Dấu hiệu điển hình nhất là những cơn đau bụng dữ dội xuất hiện đột ngột. Trẻ có thể khóc thét, co chân hoặc ưỡn người. Mỗi cơn thường kéo dài 3-10 phút và lặp lại sau khoảng 15-30 phút. Đáng chú ý, giữa hai cơn đau, trẻ có thể lại chơi hoặc ngủ gần như bình thường, khiến cha mẹ dễ chủ quan.
Nôn trớ thường xuất hiện sớm sau cơn đau. Ban đầu trẻ nôn thức ăn, sau đó có thể nôn dịch vàng hoặc xanh. Đi ngoài phân nhầy máu thường xuất hiện ở những trường hợp đến viện muộn. Khi thăm khám, bác sỹ cũng có thể sờ thấy khối chắc ở vùng bụng, thường tại hạ sườn phải.
Trường hợp bệnh nhi 18 tháng tuổi nói trên cho thấy không nên chờ trẻ xuất hiện đầy đủ các dấu hiệu điển hình mới nghĩ tới lồng ruột. Ở giờ thứ 15, trẻ chưa đi ngoài ra máu, X-quang cũng chưa phát hiện bất thường rõ, nhưng siêu âm đã xác định được khối lồng.
BSCKI Mai Thanh Huyền, chuyên khoa Chẩn đoán hình ảnh, Phòng khám Đa khoa MEDLATEC Vĩnh Phúc cho biết, biểu hiện lâm sàng của lồng ruột trong giai đoạn đầu có thể bị nhầm với rối loạn tiêu hóa, viêm dạ dày ruột hay hội chứng lỵ. Vì vậy, chẩn đoán hình ảnh có vai trò quan trọng, trong đó siêu âm ổ bụng được coi là phương pháp có giá trị cao trong phát hiện lồng ruột.
Trên siêu âm, bác sỹ có thể nhận diện những hình ảnh đặc trưng như dấu hiệu “bia bắn” ở mặt cắt ngang, với phần mạc treo chứa mỡ tăng âm ở trung tâm và các lớp thành ruột phù nề bao quanh. Ở mặt cắt dọc, các lớp của đoạn ruột bị lồng chồng lên nhau có thể tạo hình ảnh đặc trưng giống “bánh mì kẹp”.
Siêu âm Doppler còn giúp bác sỹ đánh giá tình trạng tưới máu của đoạn ruột bị lồng và những dấu hiệu liên quan đến biến chứng. Việc xác định sớm tình trạng khối lồng là cơ sở quan trọng để bác sỹ lựa chọn phương pháp xử trí phù hợp, trong đó những trường hợp đủ điều kiện có thể được tháo lồng bằng hơi thay vì phải phẫu thuật.
Với bệnh nhi L.H.Đ., việc phát hiện khối lồng khi chưa có dịch tự do trong ổ bụng, chưa xuất hiện những biểu hiện của biến chứng nặng đã tạo điều kiện để trẻ được chuyển viện và tháo lồng kịp thời, tránh nguy cơ phải trải qua một cuộc phẫu thuật.
Từ trường hợp này, bác sỹ Huyền khuyến cáo, trẻ nhỏ chưa thể mô tả chính xác vị trí và mức độ đau nên cha mẹ cần chú ý những thay đổi bất thường trong hành vi. Nếu trẻ đột ngột quấy khóc dữ dội từng cơn, nôn trớ, bỏ bú hoặc có bất thường về đại tiện, không nên tự ý kéo dài việc sử dụng thuốc hay men tiêu hóa tại nhà.
Đặc biệt, không nên chờ đến khi trẻ đi ngoài ra máu mới đưa đi khám, bởi đây có thể là biểu hiện xuất hiện muộn. Với lồng ruột, thời gian có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng bảo tồn đoạn ruột. Phát hiện và xử trí càng sớm, cơ hội tháo lồng thuận lợi càng cao, đồng thời giảm nguy cơ hoại tử, thủng ruột và những biến chứng có thể đe dọa tính mạng.
Sỏi niệu quản không đau vẫn có thể đẩy người bệnh vào suy thận cấp
Không đau, không có triệu chứng rõ rệt khiến nhiều người chủ quan với sỏi đường tiết niệu. Tuy nhiên, khi viên sỏi gây tắc nghẽn kéo dài, người bệnh có thể đối mặt với ứ nước thận, nhiễm trùng, suy giảm chức năng thận, thậm chí những biến chứng đe dọa tính mạng.
Ông Ngọc, 62 tuổi, từng phát hiện sỏi niệu quản nhưng do không đau nên không tiếp tục thăm khám, điều trị trong suốt một năm. Đến khi xuất hiện phù mặt, chân tay, mệt mỏi và rối loạn ý thức, ông mới được gia đình đưa đến bệnh viện.
ThS.BS.CKII Phạm Thanh Trúc, chuyên khoa thận, tiết niệu khi thăm khám cho bệnh nhân cho biết, kết quả xét nghiệm ghi nhận độ lọc cầu thận (eGFR) của bệnh nhân giảm xuống dưới 15 ml/phút/1,73 m². Siêu âm cho thấy cả hai thận đều ứ nước độ 3. Người bệnh được chẩn đoán suy thận cấp.
Kết quả chụp cắt lớp vi tính tiếp tục cho thấy tình trạng tổn thương đường tiết niệu nghiêm trọng hơn dự kiến. Người bệnh có sỏi ở cả hai thận, trong đó bên trái xuất hiện viên sỏi niệu quản kích thước tới 3 cm gây bít tắc, làm đường niệu quản biến dạng hình chữ Z. Bên phải cũng có nhiều sỏi niệu quản, kèm một viên sỏi tại khúc nối bể thận.
Hệ quả là dòng nước tiểu từ thận xuống bàng quang bị tắc nghẽn, khiến áp lực trong hệ tiết niệu tăng cao, gây ứ nước hai thận, suy thận cấp và nhiễm trùng.
Trường hợp này cho thấy mức độ nguy hiểm của sỏi đường tiết niệu không nhất thiết tỷ lệ thuận với cảm giác đau. Việc không xuất hiện những cơn đau dữ dội không đồng nghĩa viên sỏi vô hại. Nếu tắc nghẽn diễn ra kéo dài mà không được phát hiện và xử trí, chức năng thận có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Trước tình trạng của bệnh nhân, ưu tiên của các bác sỹ không phải là loại bỏ sỏi ngay lập tức mà là giải quyết tắc nghẽn, kiểm soát nhiễm trùng và bảo vệ chức năng thận.
Bác sỹ Trúc cho biết, nếu tiến hành tán sỏi ngay trong thời điểm người bệnh đang nhiễm trùng nặng, vi khuẩn và độc tố có thể xâm nhập ồ ạt vào máu qua các tổn thương niêm mạc, làm tăng nguy cơ sốc nhiễm trùng, suy đa tạng, đe dọa tính mạng.
Do đó, ê-kíp quyết định đặt ống JJ để dẫn lưu nước tiểu, giảm áp lực cho hệ tiết niệu và tạo điều kiện kiểm soát nhiễm trùng, suy thận cấp trước khi xử lý sỏi.
Sau một tuần đặt ống JJ, các chỉ số xét nghiệm máu và nước tiểu của bệnh nhân ổn định. Khi các điều kiện an toàn được bảo đảm, ê-kíp tiến hành tán sỏi niệu quản hai bên và sỏi thận.
Bác sỹ sử dụng ống soi mềm để tiếp cận, tán và lấy sạch sỏi ở cả hai bên trong một lần can thiệp. Hệ thống C-arm được sử dụng nhằm hỗ trợ định vị chính xác vị trí sỏi và kiểm tra tình trạng sạch sỏi sau thủ thuật. “So với mổ mở, phương pháp này ít xâm lấn, bảo tồn tối đa mô lành, giảm thiểu mất máu và giảm đau sau mổ cho người bệnh”, bác sỹ Trúc cho biết.
Sau can thiệp, sức khỏe ông Ngọc ổn định, các triệu chứng phù nề, mệt mỏi chấm dứt. Đáng chú ý, chức năng thận phục hồi rõ rệt, độ lọc cầu thận từ dưới 15 ml/phút/1,73 m² tăng trở lại mức 85 ml/phút/1,73 m². Người bệnh được xuất viện sau một ngày và được hướng dẫn tái khám để rút hai ống JJ.
Kết quả phân tích thành phần sỏi ghi nhận sỏi Apatit Cacbonat và Canxi Oxalat Monohydrat. Do có cơ địa dễ hình thành sỏi, bệnh nhân được khuyến cáo uống đủ nước, hạn chế thực phẩm chứa nhiều oxalat như củ cải, chocolate, các loại hạt; điều chỉnh lượng đạm phù hợp, sử dụng thuốc kiểm soát pH nước tiểu, chống nhiễm trùng theo chỉ định và thay đổi thói quen sinh hoạt nhằm hạn chế nguy cơ tái phát.
Từ trường hợp trên, các bác sỹ cảnh báo một trong những nguy cơ đáng lưu ý của sỏi tiết niệu là người bệnh có thể chủ quan khi chưa xuất hiện triệu chứng rõ ràng. Trong khi đó, viên sỏi vẫn có thể gây cản trở dòng nước tiểu, dẫn đến ứ nước và ảnh hưởng chức năng thận nếu tình trạng tắc nghẽn kéo dài.
Đặc biệt, khi tắc nghẽn đường tiết niệu đi kèm nhiễm trùng, tình trạng bệnh có thể trở nên nghiêm trọng, đòi hỏi xử trí khẩn trương để vừa kiểm soát nhiễm trùng, vừa giải phóng đường dẫn nước tiểu trước khi can thiệp loại bỏ sỏi.
Bác sỹ Trúc khuyến cáo người dân nên chủ động khám sức khỏe và siêu âm bụng định kỳ nhằm phát hiện sớm sỏi đường tiết niệu, kể cả khi chưa có triệu chứng. Một khi đã phát hiện sỏi, người bệnh cần được theo dõi và đánh giá mức độ tắc nghẽn, vị trí, kích thước sỏi cũng như ảnh hưởng đối với chức năng thận để có phương án xử trí phù hợp.
Người bệnh cũng không nên tự sử dụng các bài thuốc dân gian, mẹo truyền miệng hoặc tự tìm cách “đẩy sỏi” tại nhà. Việc can thiệp không phù hợp có thể khiến sỏi di chuyển, gây tổn thương niêm mạc, chảy máu hoặc làm tình trạng nhiễm trùng trở nên phức tạp hơn.
Ca bệnh của ông Ngọc là lời cảnh báo về một quan niệm khá phổ biến: chỉ điều trị sỏi khi đau. Trên thực tế, sự im lặng của triệu chứng đôi khi lại khiến bệnh dễ bị bỏ qua cho đến khi chức năng thận đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Phát hiện sớm, theo dõi đúng và can thiệp đúng thời điểm vì vậy có ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ chức năng thận và ngăn những biến chứng có thể đe dọa tính mạng.