Robot chứng minh ưu thế ở hàng loạt ca bệnh phức tạp
Ngày 2/7 vừa qua đánh dấu một cột mốc quan trọng của ngoại khoa ung bướu Việt Nam khi Bệnh viện K chính thức khai giảng Khóa đào tạo phẫu thuật nội soi robot cơ bản đầu tiên dành cho chuyên ngành ngoại khoa ung thư.
Diễn ra liên tục trong 30 ngày, đây là chương trình đào tạo chính quy đầu tiên ứng dụng hệ thống robot thế hệ mới trong điều trị các bệnh lý ung thư tiêu hóa, tiết niệu, phụ khoa, đầu cổ và lồng ngực.
Không đơn thuần là khóa học về kỹ thuật, chương trình được xem là bước khởi đầu trong chiến lược xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, từng bước đưa phẫu thuật robot trở thành kỹ thuật thường quy tại các trung tâm ung bướu lớn của Việt Nam.
| Bác sỹ theo dõi quá trình robot tham gia phẫu thuật cho người bệnh. |
Khóa học quy tụ nhiều chuyên gia đầu ngành trong nước và quốc tế như GS-TS.Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện K; PGS-TS.Vũ Lê Chuyên, Chủ tịch Danh dự Hội Tiết niệu - Thận học Việt Nam; PGS-TS.Lâm Việt Trung, Phó Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy và bác sỹ Vance Sohn, Giám đốc Viện Ung thư MedStar Georgetown (Hoa Kỳ).
Bên cạnh đội ngũ giảng viên, chương trình còn thu hút các học viên là phẫu thuật viên đến từ nhiều bệnh viện tuyến cuối như Bệnh viện K, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Ung bướu TP.HCM và Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp.
Theo GS-TS.Lê Văn Quảng, phẫu thuật robot hiện là xu hướng phát triển tất yếu của ngoại khoa hiện đại. Việc tổ chức khóa đào tạo không chỉ giúp cập nhật kiến thức, nâng cao năng lực chuyên môn mà còn tạo điều kiện để các bácsỹ từng bước làm chủ công nghệ mới ngay tại Việt Nam.
"Là bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối về ung bướu, Bệnh viện K luôn chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh đào tạo và chuyển giao kỹ thuật để các phẫu thuật viên từng bước làm chủ các công nghệ hiện đại, mang lại chất lượng điều trị tốt hơn cho người bệnh", GS-TS.Lê Văn Quảng nhấn mạnh.
Điểm khác biệt lớn nhất của khóa đào tạo không nằm trong phòng học mà ngay tại phòng mổ. Thay vì chỉ tiếp cận lý thuyết hay mô hình mô phỏng, các học viên được trực tiếp theo dõi, thảo luận và tham gia phẫu thuật trên những ca bệnh ung thư có mức độ khó cao, nơi mọi thao tác đều đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối.
Một trong những trường hợp điển hình là bệnh nhân nam 62 tuổi mắc ung thư biểu mô vảy thực quản đoạn 1/3 dưới. Khi nhập viện, khối u đã xâm lấn rộng, kèm nhiều hạch di căn trung thất và hạch cạnh tâm vị.
Còn theo TS.Đoàn Trọng Tú, Trưởng khoa Ngoại Tiêu hóa 2, nếu phẫu thuật ngay từ đầu, nguy cơ tai biến rất cao và khả năng cắt bỏ triệt để không lớn. Người bệnh được hóa xạ trị tiền phẫu nhằm thu nhỏ khối u trước khi bước vào cuộc mổ robot.
Sau điều trị, khối u đáp ứng tốt, tạo điều kiện để ê-kíp thực hiện phẫu thuật cắt thực quản và nạo vét hạch triệt để. "Với hệ thống robot, chúng tôi có thể thao tác chính xác trong không gian trung thất rất hẹp, nạo vét hạch triệt để hơn và giảm nguy cơ tổn thương các cấu trúc quan trọng", TS.Đoàn Trọng Tú chia sẻ.
Không chỉ trong ung thư thực quản, robot tiếp tục phát huy thế mạnh ở nhiều bệnh lý vốn được xem là thách thức của ngoại khoa. Ở chuyên ngành tiết niệu, bệnh nhân nam 69 tuổi mắc ung thư thận phải trên nền bệnh tim mạch phức tạp và đang sử dụng thuốc chống đông được chỉ định cắt bán phần thận nhằm bảo tồn tối đa chức năng.
Khối u nằm sâu trong nhu mô, ranh giới khó xác định. Nhờ hình ảnh ba chiều có độ phân giải cao cùng các cánh tay robot có khả năng xoay linh hoạt, ê-kíp kiểm soát chính xác mạch máu, rút ngắn thời gian thiếu máu nóng của thận và giữ lại tối đa phần nhu mô lành.
Trong điều trị ung thư trực tràng thấp, robot giúp các bácsỹ thực hiện bóc tách toàn bộ mạc treo trực tràng, nạo vét hạch và bảo tồn cơ thắt hậu môn cũng như hệ thần kinh vùng chậu cho bệnh nhân có khối u chỉ cách hậu môn khoảng 3 cm.
Đối với bệnh nhân nữ 34 tuổi mắc ung thư cổ tử cung đã từng phẫu thuật trước đó, robot hỗ trợ phẫu thuật viên xử lý trong điều kiện giải phẫu bị thay đổi, giúp cắt rộng tổ chức quanh âm đạo, vét hạch chậu và bảo tồn thần kinh, hạn chế tối đa nguy cơ tổn thương các cấu trúc quan trọng.
Ở lĩnh vực ung thư tuyến tiền liệt, robot tiếp tục cho thấy ưu thế khi thực hiện cắt toàn bộ tuyến tiền liệt đồng thời bảo tồn cơ thắt niệu đạo và bó mạch thần kinh cương, hai yếu tố quyết định khả năng kiểm soát tiểu tiện và chất lượng sống của người bệnh sau điều trị.
Theo các chuyên gia, thành công của phẫu thuật robot không chỉ được đo bằng việc lấy bỏ hoàn toàn khối u. Điều quan trọng hơn là khả năng bảo tồn thần kinh, mạch máu và các cơ quan chức năng, giúp người bệnh giảm đau, ít mất máu, phục hồi nhanh, rút ngắn thời gian nằm viện và giảm các biến chứng lâu dài.
Camera 3D độ phân giải cao cùng hệ thống cánh tay robot có thể thao tác chính xác đến từng milimet giúp phẫu thuật viên tiếp cận các vùng giải phẫu khó, nơi phẫu thuật nội soi thông thường hoặc mổ mở gặp nhiều hạn chế.
Đối với bệnh nhân ung thư, đây chính là giá trị cốt lõi của điều trị hiện đại, khi không chỉ kéo dài thời gian sống mà còn giúp họ duy trì chất lượng cuộc sống, bảo tồn chức năng và sớm trở lại sinh hoạt bình thường.
Khám sức khỏe toàn diện, lập hồ sơ sức khỏe điện tử tri ân người có công với cách mạng
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2026), Bệnh viện Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội (cơ sở Linh Đàm) phối hợp UBND phường Hoàng Liệt (Hà Nội) tổ chức chương trình khám sức khỏe, tư vấn y tế và tặng quà tri ân thương binh, thân nhân liệt sỹ, người có công với cách mạng.
Hoạt động không chỉ thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa" của dân tộc mà còn đánh dấu bước khởi đầu của mô hình hợp tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng giữa bệnh viện và chính quyền địa phương, hướng tới quản lý sức khỏe lâu dài, liên tục cho người dân, đặc biệt là các đối tượng chính sách.
Trong chương trình, 336 người dân được khám sức khỏe miễn phí, gồm 226 thương binh, thân nhân liệtsỹ, người có công với cách mạng và các đối tượng chính sách; 50 hội viên Hội Cựu chiến binh cùng 60 cán bộ cơ sở trên địa bàn.
Khác với những đợt khám sức khỏe thông thường, người dân được tiếp cận quy trình khám toàn diện, đồng bộ với sự hỗ trợ của hệ thống trang thiết bị hiện đại.
Quy trình bắt đầu bằng khám lâm sàng tổng quát nhằm đánh giá thể trạng, phát hiện các bệnh lý nội khoa, ngoại khoa, da liễu, sản phụ khoa, đồng thời được khám chuyên sâu ở nhiều chuyên khoa như mắt, tai mũi họng và răng hàm mặt.
Song song với đó, các bác sỹ chỉ định thực hiện đầy đủ các xét nghiệm cận lâm sàng gồm xét nghiệm máu, tổng phân tích nước tiểu và chụp X-quang tim phổi. Những kỹ thuật này giúp phát hiện sớm nhiều bệnh lý mạn tính và các bệnh thường gặp ở người cao tuổi, từ đó xây dựng phương án điều trị, theo dõi và chăm sóc phù hợp.
Sau khi hoàn tất khám, người dân được bácsỹ tư vấn chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt và phòng bệnh phù hợp với tình trạng sức khỏe của từng cá nhân.
Đáng chú ý, toàn bộ dữ liệu khám sức khỏe của người dân được cập nhật trực tiếp lên hệ thống Hồ sơ sức khỏe điện tử của thành phố Hà Nội. Đây là nền tảng quan trọng giúp theo dõi sức khỏe xuyên suốt, hỗ trợ quản lý bệnh mạn tính, phát hiện sớm nguy cơ bệnh tật và nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe lâu dài cho người dân.
Theo các chuyên gia, việc kết hợp giữa khám sức khỏe trực tiếp với quản lý dữ liệu số không chỉ giảm tình trạng khám chữa bệnh manh mún mà còn tạo điều kiện để mỗi người dân có một hồ sơ sức khỏe đầy đủ, phục vụ công tác theo dõi và điều trị liên tục trong tương lai.
Trong khuôn khổ chương trình, Bệnh viện Đại học Y Dược và UBND phường Hoàng Liệt cũng chính thức khởi động chương trình hợp tác y tế toàn diện, mở đầu cho chuỗi hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng lâu dài tại địa phương, trong đó ưu tiên người có công với cách mạng và các gia đình chính sách.
Thông qua chương trình hợp tác này, các dịch vụ y tế chất lượng cao sẽ được đưa đến gần hơn với người dân ngay tại tuyến cơ sở, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và giảm áp lực cho các bệnh viện tuyến trên.
GS-TS-TTND.Lê Ngọc Thành, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, phụ trách Bệnh viện Đại học Y Dược cho biết quan, điểm của bệnh viện là lấy người dân làm trung tâm trong mọi hoạt động chăm sóc sức khỏe.
"Bệnh viện ở đâu thì người dân ở đó được chăm sóc y tế tốt nhất. Bên cạnh việc tổ chức khám bệnh cho người có công, bệnh viện và y tế phường sẽ hợp tác chặt chẽ trong công tác cấp cứu, đào tạo và chuyển giao chuyên môn kỹ thuật", GS.Lê Ngọc Thành nhấn mạnh.
Theo ông, là bệnh viện trường đại học đầu tiên của cả nước được đầu tư đồng bộ, hiện đại, Bệnh viện Đại học Y Dược mong muốn mang những kỹ thuật y học tiên tiến nhất phục vụ người dân Thủ đô.
"Chúng tôi mong muốn mang đến những dịch vụ khám chữa bệnh kỹ thuật cao nhất để phục vụ nhân dân phường Hoàng Liệt nói riêng và người dân Thủ đô nói chung", GS.Lê Ngọc Thành khẳng định.
Đứng 16 tiếng mỗi ngày suốt 30 năm, người đàn ông đối mặt suy giãn tĩnh mạch nặng
Là thợ xây dựng tại Mỹ suốt hơn ba thập kỷ, ông Mẫn (63 tuổi) gần như phải đứng liên tục 16 tiếng mỗi ngày trên công trường. Những cơn đau nhức, nặng chân xuất hiện từ nhiều năm trước nhưng vì điều kiện công việc và khó tiếp cận dịch vụ điều trị chuyên sâu, ông chấp nhận sống chung với bệnh.
Chỉ đến khi các búi tĩnh mạch nổi ngoằn ngoèo ngày càng lớn, đau buốt khiến việc đi lại và sinh hoạt trở nên khó khăn, ông mới quyết định trở về Việt Nam để điều trị tại viện.
Kết quả siêu âm Doppler mạch máu cho thấy hai chân của người bệnh bị suy giãn tĩnh mạch rất nặng. Các tĩnh mạch giãn ngoằn ngoèo thành từng búi lớn dưới da, đoạn giãn lớn nhất lên tới 16 mm, gấp gần 8 lần đường kính bình thường (khoảng 2-3 mm).
Theo TS.Nguyễn Anh Dũng, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực - Mạch máu, Trung tâm Ngoại Lồng ngực - Mạch máu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, đứng lâu và lao động nặng trong thời gian dài là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây suy giãn tĩnh mạch chi dưới.
Khi phải đứng liên tục nhiều giờ, áp lực trong hệ tĩnh mạch chân tăng cao khiến các van tĩnh mạch dần suy yếu. Máu không được đưa trở về tim hiệu quả mà ứ đọng tại chân, lâu ngày làm tĩnh mạch giãn rộng, nổi ngoằn ngoèo dưới da, gây cảm giác đau nhức, nặng chân, phù chân và ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống.
Do hệ thống tĩnh mạch của người bệnh giãn lớn và phân bố phức tạp, các bácsỹ chỉ định điều trị bằng phương pháp laser nội mạch kết hợp kỹ thuật Muller nhằm xử lý triệt để các búi tĩnh mạch dưới da.
Khác với phương pháp lột tĩnh mạch (Stripping) truyền thống phải rạch da dài, gây đau nhiều, thời gian hồi phục lâu và dễ để lại sẹo, laser nội mạch sử dụng năng lượng nhiệt để làm xơ hóa tĩnh mạch từ bên trong. Đồng thời, kỹ thuật Muller với những vết chích rất nhỏ chỉ từ 1-2 mm giúp loại bỏ các búi tĩnh mạch nổi dưới da mà hầu như không gây tổn thương mô lành xung quanh.
Nhờ kỹ thuật can thiệp xâm lấn tối thiểu, người bệnh ít chảy máu, giảm đau sau điều trị và có thể đi lại ngay sau can thiệp. Chỉ một giờ sau thủ thuật, ông Mẫn đã có thể tự đi lại nhẹ nhàng, không còn cảm giác đau buốt như trước. Sau khoảng 12 giờ theo dõi, người bệnh được xuất viện và tiếp tục chuyến du lịch cùng gia đình trước khi quay trở lại Mỹ.
Theo TS.Nguyễn Anh Dũng, những năm gần đây, ngày càng nhiều kiều bào và người nước ngoài lựa chọn Việt Nam để điều trị suy giãn tĩnh mạch nhờ các kỹ thuật can thiệp hiện đại, thời gian chờ ngắn và chi phí hợp lý hơn so với nhiều quốc gia.
Các chuyên gia cũng lưu ý, suy giãn tĩnh mạch không đơn thuần là vấn đề thẩm mỹ. Nếu kéo dài, bệnh có thể dẫn đến viêm tĩnh mạch, loét chân mạn tính, huyết khối tĩnh mạch sâu, thậm chí tăng nguy cơ thuyên tắc phổi - biến chứng nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng.
Những người phải đứng lâu, ngồi nhiều như công nhân, nhân viên bán hàng, giáo viên, thợ làm tóc, tài xế; phụ nữ mang thai; người thừa cân, béo phì hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh cần đặc biệt lưu ý. Khi xuất hiện các dấu hiệu như nặng chân, sưng mắt cá, đau nhức, chuột rút về đêm hoặc tĩnh mạch nổi rõ dưới da, người bệnh nên đi khám sớm để được điều trị kịp thời, tránh những biến chứng khó hồi phục.