Khoảng 70-80% người bệnh ung thư được phát hiện ở giai đoạn muộn
Ung thư vòm họng có một nghịch lý đáng lo ngại. Bệnh có khả năng điều trị tốt hơn nếu được phát hiện sớm nhưng ở giai đoạn đầu, các biểu hiện thường kín đáo, dễ nhầm với những bệnh lý tai mũi họng thông thường. Khoảng 70-80% người bệnh được chẩn đoán ở giai đoạn 3 hoặc 4, thời điểm bệnh đã tiến triển và việc điều trị trở nên phức tạp hơn.
Những tiến bộ về dấu ấn sinh học, di truyền và kỹ thuật hình ảnh đang mở ra khả năng thu hẹp khoảng trống này, giúp nhận diện nguy cơ trước thời điểm bệnh được phát hiện bằng cách tiếp cận lâm sàng thông thường.
| Khoảng 70-80% người bệnh được chẩn đoán ở giai đoạn 3 hoặc 4, thời điểm bệnh đã tiến triển và việc điều trị trở nên phức tạp hơn. |
Thông tin được GS-TS.Trần Phan Chung Thủy, Chủ tịch Hội Tai Mũi Họng Việt Nam, Chủ tịch Hội Ung thư Đầu Cổ Châu Á, báo cáo tại Đại hội Tai Mũi Họng - Phẫu thuật Đầu Cổ Thế giới lần thứ XXIII diễn ra tại Thổ Nhĩ Kỳ từ ngày 9-13/9.
Ung thư vòm họng vẫn là một trong những bệnh ung thư đáng lưu ý tại Việt Nam. Dữ liệu GLOBOCAN 2022 được dẫn tại hội nghị cho thấy Việt Nam ghi nhận 5.613 ca mắc mới mỗi năm, chiếm khoảng 3,1% tổng số ca ung thư và đứng thứ 9 về số ca mắc mới trong các loại ung thư.
Sự hình thành ung thư vòm họng liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó nhiễm virus Epstein-Barr (EBV) giữ vai trò quan trọng, bên cạnh yếu tố di truyền và những tác động từ môi trường.
Khó khăn lớn của việc phát hiện bệnh nằm ở giai đoạn sớm. Người bệnh có thể chưa xuất hiện triệu chứng rõ ràng hoặc biểu hiện dễ bị nhầm với các vấn đề tai mũi họng thông thường. Đến lúc triệu chứng trở nên điển hình, bệnh có thể đã tiến triển.
GS.Trần Phan Chung Thủy cho biết, nghiên cứu phân tích biến thể gene SNP rs2856718 trên gene HLA-DQ ở người nhiễm EBV cho thấy allele G và kiểu gene GG có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh thấp hơn so với nhóm không mang kiểu gene này.
Việc xác định những đặc điểm di truyền liên quan đến nguy cơ có thể hỗ trợ phân tầng người nhiễm EBV, từ đó lựa chọn nhóm cần được theo dõi chặt chẽ hơn thay vì triển khai tầm soát đại trà cho toàn bộ cộng đồng.
Đáng chú ý, việc kết hợp các dấu ấn sinh học virus và di truyền như EBV DNA, HLA-DQ với những phương pháp khảo sát hình ảnh như nội soi dải tần ánh sáng hẹp NBI và I-Scan được cho là có thể hỗ trợ dự đoán nguy cơ mắc ung thư vòm họng ở giai đoạn rất sớm, trước thời điểm chẩn đoán lâm sàng thông thường khoảng 6-12 tháng.
Khoảng thời gian phát hiện bệnh có ý nghĩa lớn đối với lựa chọn phương pháp điều trị. Phác đồ ung thư vòm họng được xác định dựa trên giai đoạn bệnh và nhiều yếu tố chuyên môn khác.
Ở giai đoạn sớm, xạ trị tiêu chuẩn hoặc phẫu thuật cắt vòm họng qua nội soi có thể được cân nhắc đối với những trường hợp phù hợp. Thông tin được trình bày tại hội nghị cho thấy kỹ thuật phẫu thuật cắt vòm họng qua nội soi ở người bệnh giai đoạn sớm đạt tỷ lệ sống 92,1%, hơn 90% trường hợp đạt diện cắt âm tính, đồng thời hướng tới bảo tồn chức năng nuốt, thính lực và vận động vùng cổ.
Tuy nhiên, đây không phải phương pháp có thể áp dụng cho mọi bệnh nhân. Chỉ định phẫu thuật được lựa chọn nghiêm ngặt, chủ yếu ở giai đoạn T1-T2, đồng thời đòi hỏi năng lực chuyên môn cao của phẫu thuật viên và hệ thống thiết bị hỗ trợ hiện đại. Những yêu cầu này cũng khiến kỹ thuật chưa thể triển khai rộng tại nhiều cơ sở y tế.
Ở chiều điều trị, phát hiện bệnh càng sớm càng tạo thêm khả năng lựa chọn các phương pháp ít xâm lấn hơn và bảo tồn chức năng tốt hơn. Với những trường hợp tiến triển, liệu pháp miễn dịch, điều trị nhắm trúng đích và cá thể hóa phác đồ tiếp tục mở rộng các lựa chọn điều trị.
Cảnh báo dấu hiệu ung thư ở nam thanh niên 21 tuổi
Không đau, không ngứa hay chảy dịch, những tổn thương chỉ vài mm ở dương vật tồn tại khoảng 3 tháng khiến nam thanh niên 21 tuổi đi khám. Kết quả sinh thiết bất ngờ phát hiện ung thư biểu mô vảy tại chỗ, giai đoạn các tế bào ác tính chưa xâm lấn sâu.
Bệnh nhân B.V.Q, 21 tuổi, ở Hưng Yên, đi khám sau khoảng 3 tháng nhận thấy những khối bất thường ở vùng thân dương vật. Các tổn thương phát triển chậm, không đau, không viêm đỏ hay chảy dịch. Người bệnh cũng không sốt, không sút cân, không tiểu buốt, tiểu dắt nên trước đó chưa thực hiện bất kỳ biện pháp điều trị nào.
Bệnh sử cho thấy nam thanh niên có quan hệ tình dục không an toàn trong khoảng một năm. Qua thăm khám, bác sỹ phát hiện tại niêm mạc bao quy đầu vùng mu dương vật có một số khối nhỏ, kích thước khoảng 1x3 mm, mềm, không đau và không viêm tấy. Người bệnh đồng thời có tình trạng bao quy đầu dài, hẹp nhẹ; miệng sáo nề nhẹ, có ít dịch dính và xuất hiện một số hạch nhỏ ở hai bên bẹn.
Trước đặc điểm của tổn thương, bác sỹ Trần Quang Toản, chuyên khoa Ngoại Tiết niệu - Nam học, chỉ định người bệnh thực hiện thêm các xét nghiệm để xác định bản chất.
Kết quả sinh thiết và giải phẫu bệnh ghi nhận ung thư biểu mô vảy tại chỗ dương vật, diện cắt không còn u. Xét nghiệm sinh học phân tử đồng thời phát hiện Chlamydia trachomatis trong dịch niệu đạo. Các xét nghiệm liên quan đến một số bệnh lây truyền qua đường máu và đường tình dục khác chưa phát hiện bất thường.
Kết quả chụp cắt lớp vi tính phổi, ổ bụng và tiểu khung ghi nhận một số hạch nhỏ vùng bẹn nhưng không đặc hiệu. Từ kết quả thăm khám và xét nghiệm, người bệnh được chẩn đoán ung thư biểu mô vảy tại chỗ dương vật, đồng thời mắc Chlamydia niệu đạo.
Sau khi tổn thương được lấy bỏ và xác định bản chất bằng giải phẫu bệnh, bệnh nhân tiếp tục được điều trị tại bệnh viện chuyên khoa. Kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật ghi nhận viêm biểu mô vảy mạn tính, không còn tế bào ác tính. Người bệnh sau đó xuất viện và được hẹn tái khám định kỳ.
Bác sỹ Trần Quang Toản cho biết, PeIN, viết tắt của Penile Intraepithelial Neoplasia, là tân sinh nội biểu mô dương vật, được xem là tổn thương ung thư rất sớm hay ung thư biểu mô tại chỗ.
Ở giai đoạn này, các tế bào bất thường còn giới hạn trong lớp biểu mô, chưa xâm lấn xuống các mô sâu hơn. Phát hiện và điều trị ở thời điểm tổn thương còn khu trú mang lại cơ hội kiểm soát bệnh tốt hơn.
Ung thư dương vật tương đối hiếm so với nhiều bệnh ung thư khác ở nam giới. Trong các trường hợp ung thư dương vật, ung thư biểu mô tế bào vảy chiếm phần lớn.
Các bác sỹ khuyến cáo nam giới cần chú ý những thay đổi bất thường ở cơ quan sinh dục như xuất hiện nốt sần, khối u nhú, vùng da đổi màu hoặc các vết trợt, loét kéo dài. Ngay cả những tổn thương rất nhỏ, không đau và không ngứa nhưng tồn tại hoặc tiến triển cũng cần được kiểm tra thay vì tự mua thuốc bôi.
Đối với những tổn thương nghi ngờ, quan sát bằng mắt thường không phải lúc nào cũng đủ để phân biệt u nhú lành tính, sùi mào gà với tổn thương tiền ung thư hoặc ung thư. Sinh thiết và xét nghiệm giải phẫu bệnh có vai trò quyết định trong xác định bản chất mô học của tổn thương.
Phát hiện bất thường sớm và đi khám đúng chuyên khoa có thể tạo ra khác biệt lớn, đặc biệt với ung thư còn khu trú ở lớp biểu mô và chưa bước sang giai đoạn xâm lấn.
Tê tay về đêm, hay đánh rơi đồ vật có thể cảnh báo hội chứng ống cổ tay
Tê bì các ngón tay, đau nhiều về đêm, bàn tay yếu dần hoặc thường xuyên đánh rơi đồ vật có thể là dấu hiệu dây thần kinh giữa đang bị chèn ép do hội chứng ống cổ tay. Nếu tình trạng kéo dài không được xử trí, người bệnh có nguy cơ teo cơ và suy giảm chức năng bàn tay.
Tê tay sau nhiều giờ làm việc với máy tính thường khiến nhiều người nghĩ đơn giản là do mỏi hoặc giữ một tư thế quá lâu. Tuy nhiên, nếu tình trạng tê bì lặp lại, đặc biệt xuất hiện nhiều về đêm và tập trung ở ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa cùng một phần ngón nhẫn, người bệnh cần lưu ý đến hội chứng ống cổ tay.
Hội chứng ống cổ tay, còn gọi là hội chứng đường hầm cổ tay, xuất hiện do dây thần kinh giữa bị chèn ép trong quá trình đi qua ống cổ tay ở mặt gan tay. Dây thần kinh này đảm nhận cảm giác ở ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa và một phần ngón nhẫn, đồng thời tham gia kiểm soát vận động của ngón cái.
Một biểu hiện khá đặc trưng là triệu chứng tăng lên về đêm. Tư thế gập cổ tay trong lúc ngủ có thể làm tăng áp lực lên dây thần kinh giữa, khiến người bệnh thức giấc vì tê hoặc đau và phải rung, vẫy bàn tay để giảm cảm giác khó chịu.
Một số người lại có cảm giác các ngón tay sưng hoặc căng dù quan sát bên ngoài không thấy phù nề rõ ràng. Bệnh tiến triển nặng hơn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến vận động. Bàn tay trở nên yếu và vụng về, người bệnh dễ đánh rơi đồ vật hoặc gặp khó khăn với những thao tác quen thuộc như cài cúc áo, sử dụng điện thoại hay cầm nắm các vật nhỏ.
Những người thường xuyên thực hiện các động tác lặp lại ở bàn tay và cổ tay trong thời gian dài như nhân viên văn phòng, người đánh máy, thợ thủ công, thợ cắt tóc, thợ làm bánh, công nhân dây chuyền, tài xế hoặc một số vận động viên có thể gặp các triệu chứng liên quan đến cổ tay và cần chú ý đến tư thế, cường độ vận động.
Phương pháp điều trị hội chứng ống cổ tay phụ thuộc vào mức độ chèn ép dây thần kinh, thời gian mắc bệnh, triệu chứng và tình trạng cụ thể của từng người.
Ở giai đoạn nhẹ hoặc trung bình, người bệnh có thể được hướng dẫn sử dụng nẹp giữ cổ tay ở tư thế trung tính, đặc biệt vào ban đêm, nhằm hạn chế các tư thế làm tăng chèn ép dây thần kinh. Một số trường hợp được điều trị bằng thuốc, vật lý trị liệu hoặc tiêm corticoid theo chỉ định của bác sỹ.
Tiêm thuốc vào khu vực ống cổ tay cần được thực hiện bởi nhân viên y tế có chuyên môn và bảo đảm điều kiện vô khuẩn. Việc tự sử dụng thuốc giảm đau, thuốc chống viêm hoặc corticoid kéo dài mà không có hướng dẫn chuyên môn có thể tiềm ẩn những nguy cơ không cần thiết.
Vật lý trị liệu với các bài tập phù hợp cũng có thể được áp dụng nhằm hỗ trợ duy trì khả năng vận động của cổ tay và bàn tay. Đối với trường hợp chèn ép nặng, tổn thương thần kinh tiến triển hoặc điều trị bảo tồn không đạt hiệu quả, bác sỹ có thể cân nhắc phẫu thuật giải phóng ống cổ tay nhằm giảm áp lực lên dây thần kinh giữa.
Không nên chờ đến lúc bàn tay yếu hoặc cầm nắm khó khăn mới đi khám. Tê bì kéo dài, thường xuyên thức giấc vì đau tê bàn tay, giảm cảm giác, yếu ngón cái hoặc liên tục đánh rơi đồ vật là những biểu hiện cần được đánh giá tại cơ sở y tế chuyên khoa.