Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 27/8: Bước tiến mới trong vi phẫu phục hồi liệt mặt mạn tính
D.Ngân - 27/08/2026 08:59
Gần 7 năm sống với nửa khuôn mặt bị liệt hoàn toàn sau phẫu thuật u não, nam thanh niên 26 tuổi đã có thể cười cân xứng, chủ động nhắm mắt sau các cuộc phẫu thuật phục hồi chức năng.

Sau 7 năm liệt mặt, nam thanh niên tìm lại nụ cười nhờ kỹ thuật vi phẫu mới

N.P.N, 26 tuổi, quê Sơn La, từng trải qua ca phẫu thuật lấy bỏ một khối u não lớn ở vùng góc cầu tiểu não. Ca phẫu thuật thành công khi loại bỏ hoàn toàn khối u, nhưng do vị trí khối u nằm sát dây thần kinh số VII - dây thần kinh chi phối vận động cơ mặt - quá trình bóc tách đặc biệt khó khăn và người bệnh bị liệt hoàn toàn nửa mặt trái sau mổ.

Từ một thanh niên trẻ, N. phải làm quen với khuôn mặt mất cân đối rõ rệt, miệng lệch khi cười và mắt không thể nhắm kín. Không chỉ ảnh hưởng đến ngoại hình, tình trạng này gây nhiều khó khăn trong sinh hoạt, giao tiếp và khiến người bệnh ngày càng mặc cảm, tự ti.

Suốt gần 7 năm, tình trạng liệt mặt không cải thiện. Việc không thể nhắm kín mắt còn khiến N. đứng trước nguy cơ tổn thương mắt, trong khi khả năng biểu lộ cảm xúc bị hạn chế ảnh hưởng trực tiếp đến công việc, các mối quan hệ xã hội và chất lượng cuộc sống.

Khi đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, người bệnh được đánh giá thuộc trường hợp liệt mặt mạn tính kéo dài, các cơ mặt đã teo nhiều nên khả năng phục hồi rất khó khăn.

Bác sỹ thực hiện phẫu thuật cho bệnh nhân.

TS.Bùi Mai Anh, Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học, bác sỹ Khoa Phẫu thuật Hàm mặt - Tạo hình và Thẩm mỹ cho biết, với người trẻ đang trong giai đoạn học tập, làm việc và xây dựng tương lai, phục hồi khuôn mặt không đơn thuần nhằm cải thiện thẩm mỹ. Điều quan trọng hơn là khôi phục chức năng, biểu cảm, từ đó giúp người bệnh lấy lại sự tự tin và khả năng hòa nhập xã hội.

Sau khi đánh giá kỹ tình trạng tổn thương, các bác sỹ quyết định lựa chọn phương án phẫu thuật phục hồi liệt mặt bằng kỹ thuật vi phẫu hiện đại.

Thay vì phương pháp treo tĩnh truyền thống chủ yếu giúp khuôn mặt cân đối khi nghỉ ngơi, ê-kíp lựa chọn kỹ thuật chuyển vạt cơ chức năng có thần kinh đi kèm với mục tiêu tái tạo vận động tự nhiên cho khuôn mặt. Hai chức năng được ưu tiên phục hồi là nụ cười cân xứng và khả năng nhắm kín mắt.

Ở cuộc phẫu thuật đầu tiên, các bác sỹ chuyển cơ chức năng nhằm phục hồi vận động vùng miệng, đồng thời đặt thần kinh xuyên mặt để chuẩn bị cho quá trình phục hồi vận động mắt.

Những tín hiệu đầu tiên xuất hiện sau khoảng 3 tháng khi phần cơ mặt bên liệt bắt đầu có vận động. Đến khoảng 9 tháng, N. đã có thể chủ động cười cân xứng. Đây là kết quả đặc biệt có ý nghĩa bởi nụ cười được phục hồi là nụ cười chủ động, không phụ thuộc vào những động tác hỗ trợ khác của cơ thể - một trong những mục tiêu khó đạt được trong điều trị liệt mặt mạn tính.

Sau khi hệ thống thần kinh phục vụ quá trình khôi phục hoạt động cơ vòng mi đã sẵn sàng, TS.Bùi Mai Anh tiếp tục thực hiện cuộc phẫu thuật thứ hai, chuyển cơ nhằm phục hồi chức năng nhắm mắt.

Sau khoảng 5-6 tháng tập phục hồi chức năng, tình trạng hở mi của người bệnh cải thiện rõ rệt. Từ mức hở 5-6 mm khi nhắm mắt, hiện N. chỉ còn hở khoảng 1-2 mm khi nhắm nhẹ và có thể nhắm kín hoàn toàn khi chủ động dùng lực. Việc phục hồi chức năng này giúp hạn chế nguy cơ khô giác mạc, tổn thương bề mặt nhãn cầu, đồng thời cải thiện đáng kể sinh hoạt hằng ngày của người bệnh.

Từ khuôn mặt mất cân đối, không thể nhắm kín mắt và gần như mất khả năng biểu lộ cảm xúc tự nhiên, sau quá trình điều trị, N. đã có thể cười cân đối, chủ động nhắm mắt và biểu lộ cảm xúc gần như bình thường.

Với một người trẻ, sự thay đổi ấy không chỉ được đo bằng mức độ cân xứng của khuôn mặt. Sau nhiều năm mang mặc cảm vì di chứng bệnh tật, việc lấy lại nụ cười và khả năng giao tiếp tự nhiên giúp người bệnh tự tin hơn trong cuộc sống, công việc cũng như các hoạt động xã hội.

Đáng chú ý, kỹ thuật phục hồi chức năng mắt được áp dụng trong trường hợp này là hướng tiếp cận mới. Người bệnh là một trong những trường hợp đầu tiên tại Việt Nam được áp dụng kỹ thuật chuyển cơ vùng cổ để phục hồi vận động mi mắt, bước đầu cho kết quả khả quan.

PGS-TS.Nguyễn Hồng Hà, Trưởng khoa Phẫu thuật Hàm mặt - Tạo hình đánh giá, kết quả của ca bệnh cho thấy khả năng làm chủ các kỹ thuật vi phẫu tiên tiến trong phẫu thuật tạo hình, đồng thời mở thêm cơ hội điều trị cho những người bị liệt mặt mạn tính trong nước.

Liệt mặt mạn tính, đặc biệt ở những trường hợp đã kéo dài nhiều năm và cơ mặt teo, vốn đặt ra thách thức lớn trong phục hồi chức năng. Việc ứng dụng các kỹ thuật chuyển cơ chức năng và vi phẫu thần kinh không chỉ hướng tới khôi phục sự cân đối của khuôn mặt khi nghỉ mà quan trọng hơn là tái tạo vận động, giúp người bệnh có thể cười, nhắm mắt và biểu lộ cảm xúc một cách chủ động.

Với N., sau gần 7 năm sống cùng di chứng, thành quả của quá trình điều trị không chỉ là một khuôn mặt cân đối hơn. Đó còn là nụ cười đã trở lại, khả năng nhắm mắt được phục hồi và quan trọng hơn là cơ hội bước qua mặc cảm để trở lại với cuộc sống, công việc và những giao tiếp bình thường.

Khối u dưới tai đe dọa dây thần kinh điều khiển biểu cảm khuôn mặt

Từ một khối sưng nhỏ, không đau dưới tai, người phụ nữ 67 tuổi phát hiện u tuyến mang tai nằm sâu, đan xen với các nhánh dây thần kinh số 7. Các bác sỹ đã bóc tách hoàn toàn khối u, đồng thời bảo tồn dây thần kinh chi phối vận động khuôn mặt, tránh nguy cơ liệt mặt sau phẫu thuật.

Bà Nguyễn Thị Hảo, 67 tuổi, Thái Bình, ban đầu chỉ nhận thấy một khối sưng nhỏ ở vùng góc hàm dưới tai phải. Khối này không gây đau nên bà nghĩ đơn giản là một hạch lành tính và chưa đi khám ngay. Tuy nhiên, thời gian gần đây, khối bất thường tăng nhanh về kích thước, lên khoảng hơn 3 cm và bắt đầu làm biến dạng nhẹ vùng góc mặt.

Kết quả thăm khám, xét nghiệm cận lâm sàng và chụp MRI tại Bệnh viện Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội cơ sở Linh Đàm cho thấy khối u nằm ở vị trí phức tạp, luồn sâu vào giữa hai phần nông và sâu của tuyến nước bọt mang tai. Đáng chú ý, khối u phát triển đan xen, ôm lấy các nhánh của dây thần kinh mặt, khiến việc phẫu thuật tiềm ẩn nguy cơ tổn thương chức năng vận động khuôn mặt.

GS-TS.Lê Minh Kỳ và TS.Nguyễn Như Đua cho biết, tuyến nước bọt mang tai được chia thành hai phần bởi mặt phẳng có dây thần kinh mặt, hay dây thần kinh số 7, đi qua. Dây thần kinh này phân chia thành các nhánh đảm nhiệm vận động các cơ biểu cảm khuôn mặt. Do đó, vị trí và mức độ liên quan giữa khối u với dây thần kinh là một trong những yếu tố quyết định mức độ phức tạp của phẫu thuật.

Trong trường hợp của bà Hảo, khối u nằm giữa hai phần tuyến và đan xen với các nhánh thần kinh. Nếu dây thần kinh số 7 bị đứt, dập hoặc tổn thương trong quá trình phẫu thuật, người bệnh có nguy cơ liệt mặt. Khi đó, mắt bên tổn thương có thể không nhắm kín, dẫn đến khô mắt, tổn thương giác mạc và ảnh hưởng thị lực; miệng lệch, khó khăn khi ăn uống, cười và biểu lộ cảm xúc.

Ở chiều ngược lại, nếu không bóc tách triệt để khối u vì lo ngại làm tổn thương dây thần kinh, nguy cơ tái phát vẫn hiện hữu. Việc xử lý tuyến nước bọt không phù hợp cũng có thể dẫn tới biến chứng rò nước bọt kéo dài sau phẫu thuật.

Biết khối u nằm sát hệ thống thần kinh chi phối vận động khuôn mặt, bà Hảo không khỏi lo lắng. Người bệnh cho biết đã đi tư vấn tại nhiều nơi vì sợ sau phẫu thuật khuôn mặt bị biến dạng, mắt không thể nhắm kín hoặc miệng lệch. Sau khi được các bác sỹ giải thích kỹ về tình trạng bệnh và phương án điều trị, bà mới quyết định phẫu thuật.

Đánh giá đây là trường hợp u tuyến mang tai có vị trí phức tạp và nguy cơ cao, các chuyên gia của Bệnh viện Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội - Cơ sở Linh Đàm tiến hành hội chẩn, xây dựng phương án phẫu thuật với mục tiêu vừa lấy bỏ khối u, vừa bảo tồn tối đa dây thần kinh mặt.

Ca phẫu thuật do GS.Lê Minh Kỳ và TS.Nguyễn Như Đua phối hợp cùng ê-kíp phẫu thuật, gây mê hồi sức của bệnh viện thực hiện. Trong hơn 2 giờ, dưới kính phóng đại, các phẫu thuật viên xác định gốc dây thần kinh số 7 khi vừa ra khỏi vùng xương chũm, sau đó lần theo đường đi của hệ thống thần kinh và bóc tách từng nhánh ra khỏi khối u.

Đây là công đoạn đặc biệt quan trọng bởi các nhánh thần kinh mặt có kích thước nhỏ, trong khi khối u đã nằm đan xen xung quanh. Phẫu thuật viên vừa phải kiểm soát thao tác để hạn chế tổn thương cơ học hoặc tác động nhiệt lên dây thần kinh, vừa phải bảo đảm bóc tách đầy đủ tổ chức u.

GS-TS.Lê Minh Kỳ cho biết, với u tuyến mang tai nằm sâu giữa hai phần tuyến, chỉ một tổn thương nhỏ lên dây thần kinh mặt cũng có thể để lại hậu quả lâu dài đối với chức năng và diện mạo của người bệnh. Vì vậy, việc xác định chính xác cấu trúc giải phẫu và kiểm soát từng thao tác trong quá trình bóc tách có ý nghĩa quyết định.

TS.Nguyễn Như Đua cũng cho rằng, bảo vệ dây thần kinh số 7 là một trong những ưu tiên hàng đầu trong phẫu thuật u tuyến mang tai. Khi các nhánh thần kinh nhỏ nằm sát hoặc đan xen với khối u, bác sỹ phải bóc tách cẩn trọng từng lớp mô, vừa giải phóng hệ thống thần kinh, vừa bảo đảm mục tiêu lấy bỏ khối u.

Sau hơn 2 giờ phẫu thuật, khối u kích thước hơn 3 cm được bóc tách hoàn toàn khỏi tuyến mang tai trong khi dây thần kinh mặt được bảo tồn. Sau mổ, vận động cơ mặt của người bệnh bình thường, hai mắt nhắm kín, nụ cười cân đối.

Vết mổ được bố trí theo nếp lằn cổ và phía sau tai nhằm hạn chế ảnh hưởng thẩm mỹ. Người bệnh không ghi nhận tình trạng chảy máu hoặc rò nước bọt. Sau 4 ngày điều trị và theo dõi tại bệnh viện, sức khỏe bà Hảo ổn định và đủ điều kiện xuất viện.

Từ trường hợp này, các bác sỹ lưu ý u tuyến nước bọt mang tai có thể khởi đầu bằng một khối sưng không đau nên người bệnh dễ chủ quan. Khi khối u tiếp tục phát triển, đặc biệt nếu lan sâu và liên quan đến dây thần kinh mặt, việc điều trị có thể trở nên phức tạp hơn.

Do đó, khi phát hiện khối sưng bất thường ở vùng góc hàm, trước hoặc dưới tai, người dân không nên chờ đến khi khối u lớn hoặc xuất hiện triệu chứng mới đi khám. Việc thăm khám sớm tại cơ sở y tế có chuyên khoa giúp xác định bản chất, vị trí, mức độ tổn thương và lựa chọn phương án điều trị phù hợp, qua đó giảm nguy cơ ảnh hưởng tới các cấu trúc quan trọng của khuôn mặt.

Suy thận nặng hơn vì kiêng khem sai cách

Lo sợ suy thận tiến triển và phải chạy thận nhân tạo, người phụ nữ 74 tuổi tự cắt gần như toàn bộ chất đạm, ăn nhạt tuyệt đối và hạn chế uống nước. Hai lần kiêng khem quá mức khiến chức năng thận đang cải thiện lại suy giảm, thể trạng suy nhược, sụt cân.

Bà Tươi, 74 tuổi, có tiền sử tăng huyết áp, thiếu máu cơ tim và thoái hóa khớp hơn 10 năm, phải sử dụng thuốc điều trị kéo dài. Trong một lần khám sức khỏe định kỳ, bà được cảnh báo chức năng thận có bất thường và cần kiểm tra chuyên sâu.

Kết quả xét nghiệm cho thấy độ lọc cầu thận ước tính của người bệnh chỉ còn 24,9 mL/phút/1,73m², trong khi mức bình thường trên 90 mL/phút/1,73m², tương ứng suy thận mạn giai đoạn 4.

Bác sỹ Tạ Phương Dung, chuyên khoa thận, tiết niệu khi thăm khám cho biết, suy thận ở người cao tuổi thường diễn tiến âm thầm và có mối liên hệ với các bệnh lý nền kéo dài.

Ở trường hợp này, tình trạng tăng huyết áp và bệnh tim mạch được xác định là những yếu tố ảnh hưởng đến chức năng thận. Tăng huyết áp kéo dài có thể gây tổn thương hệ thống vi mạch lọc, trong khi thiếu máu cơ tim làm giảm tưới máu tới thận, lâu dài góp phần suy giảm chức năng lọc của cầu thận.

Bên cạnh đó, người bệnh có thời gian dài sử dụng các nhóm thuốc giảm đau, kháng viêm để điều trị thoái hóa khớp. Việc sử dụng kéo dài một số loại thuốc thuộc nhóm này có thể gây thêm áp lực lên thận và ảnh hưởng nhu mô thận.

Sau khi đánh giá toàn diện, bác sỹ xây dựng phác đồ điều trị nội khoa, gồm tối ưu thuốc kiểm soát huyết áp, điều chỉnh thuốc tim mạch, lựa chọn thuốc giảm đau phù hợp, ít ảnh hưởng đến chức năng thận, đồng thời hướng dẫn chế độ dinh dưỡng.

Sau khoảng một tháng điều trị, độ lọc cầu thận của bà Tươi cải thiện, tăng và duy trì ở khoảng 50 mL/phút/1,73m², tương ứng mức suy thận giai đoạn 3a.

Tuy nhiên, chính nỗi lo bệnh tái phát và nguy cơ phải chạy thận nhân tạo lại khiến người bệnh đi đến một lựa chọn sai lầm. Sau khi về nhà, bà Tươi tự áp dụng chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt với suy nghĩ càng giảm gánh nặng cho thận càng tốt. Bà cắt gần như hoàn toàn nguồn đạm từ thịt, cá, trứng; ăn nhạt tuyệt đối, đồng thời hạn chế tối đa uống nước vì lo ngại nước tích tụ trong cơ thể gây phù.

Hai tháng sau, chức năng thận lại suy giảm. Độ lọc cầu thận chỉ còn 38,87 mL/phút/1,73m², tương ứng suy thận giai đoạn 3b. Cùng với sự thay đổi của các chỉ số xét nghiệm, thể trạng người bệnh suy nhược, thường xuyên mệt mỏi và sụt cân rõ rệt.

Bác sỹ Tạ Phương Dung giải thích, người mắc bệnh thận không đồng nghĩa với việc phải loại bỏ gần như hoàn toàn chất đạm, muối hay hạn chế tối đa nước. Thận cần được tưới máu đầy đủ, trong khi cơ thể vẫn cần năng lượng và các chất dinh dưỡng để duy trì hoạt động, tái tạo tế bào. Ăn uống thiếu hụt kéo dài có thể gây suy dinh dưỡng, teo khối cơ và ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe người bệnh.

Để khắc phục tình trạng này, người bệnh được xây dựng chế độ dinh dưỡng cá thể hóa. Thay vì loại bỏ hoàn toàn chất đạm, bà được hướng dẫn bổ sung lượng đạm có giá trị sinh học cao ở mức phù hợp với cân nặng và tình trạng bệnh; uống đủ nước dựa trên nhu cầu của cơ thể để duy trì tưới máu thận; sử dụng lượng muối phù hợp thay vì kiêng tuyệt đối.

Kết hợp sử dụng thuốc đúng chỉ định và điều chỉnh dinh dưỡng, chức năng thận của người bệnh dần cải thiện. Tuy nhiên, sau khoảng một tháng, bà Tươi một lần nữa quay trở lại chế độ kiêng khem trước đó khiến chức năng thận suy giảm lần thứ hai.

Trước tình trạng chức năng thận liên tục biến động liên quan đến chế độ ăn, bác sỹ không chỉ điều chỉnh lại khẩu phần mà xây dựng kế hoạch quản lý lâu dài. Người bệnh được hướng dẫn cụ thể về lượng đạm, năng lượng, nước và muối cần thiết, đồng thời được yêu cầu không tự ý thay đổi chế độ ăn khi chưa có ý kiến của bác sỹ.

Các chỉ số chức năng thận, cân nặng, huyết áp và tình trạng dinh dưỡng cũng được theo dõi định kỳ để có thể điều chỉnh phương án điều trị phù hợp. Đến lần tái khám tháng 8/2026, chỉ số eGFR của bà Tươi đã cải thiện lên 61,09 mL/phút/1,73m².

Trường hợp của bà Tươi cho thấy một vấn đề đáng lưu ý trong quản lý bệnh thận mạn là tâm lý kiêng khem quá mức. Khi được chẩn đoán mắc bệnh, không ít người cho rằng phải giảm tối đa chất đạm, muối hoặc lượng nước đưa vào cơ thể. Tuy nhiên, nhu cầu dinh dưỡng của mỗi người bệnh khác nhau và còn phụ thuộc vào giai đoạn suy thận, bệnh lý đi kèm, tình trạng huyết áp, phù, điện giải và thể trạng.

Bác sỹ Tạ Phương Dung cho biết, suy thận mạn là tình trạng chức năng thận suy giảm kéo dài, không thể hồi phục hoàn toàn. Dinh dưỡng hợp lý có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ kiểm soát bệnh và làm chậm quá trình tiến triển.

Người bệnh cần được cung cấp đủ năng lượng từ tinh bột và chất béo lành mạnh nhằm hạn chế teo cơ, đồng thời sử dụng lượng đạm phù hợp từ thịt nạc, cá, trứng dựa trên chỉ định chuyên môn thay vì loại bỏ hoàn toàn khỏi khẩu phần.

Lượng muối được khuyến nghị trong trường hợp này ở mức khoảng 3-5 g mỗi ngày; lượng nước cần phù hợp với tình trạng cụ thể của người bệnh. Các thực phẩm chứa nhiều kali, phospho như nội tạng động vật, thực phẩm đóng hộp cũng cần được kiểm soát.

Đặc biệt, người cao tuổi thường đồng thời mắc nhiều bệnh mạn tính và sử dụng nhiều loại thuốc, trong đó một số thuốc có thể ảnh hưởng đến chức năng thận. Vì vậy, người đang điều trị tăng huyết áp, bệnh tim mạch hoặc bệnh cơ xương khớp được khuyến cáo kiểm tra chức năng thận định kỳ 3-6 tháng một lần.

Các bác sỹ cũng lưu ý người bệnh không tự ý sử dụng thuốc giảm đau kéo dài, thay đổi thuốc điều trị hoặc áp dụng những chế độ ăn kiêng, mẹo chữa bệnh truyền miệng chưa có cơ sở khoa học. Với người mắc bệnh thận mạn, chế độ dinh dưỡng cần được xây dựng dựa trên giai đoạn bệnh và tình trạng sức khỏe cụ thể; kiêng càng nhiều không đồng nghĩa với bảo vệ thận tốt hơn, thậm chí có thể khiến sức khỏe và chức năng thận diễn biến theo chiều hướng bất lợi.

Tin liên quan
Tin khác