Trầm cảm kéo dài có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch
Sức khỏe tinh thần và sức khỏe tim mạch có mối liên hệ chặt chẽ hơn nhiều người vẫn nghĩ. Căng thẳng tâm lý kéo dài có thể tác động lên hệ thần kinh giao cảm, làm huyết áp tăng, ảnh hưởng nhịp tim và chuyển hóa, kéo theo những thay đổi bất lợi đối với hệ tim mạch.
| Đối với người có nguy cơ tim mạch, kiểm tra định kỳ huyết áp, đường huyết, mỡ máu và quản lý tốt các bệnh nền vẫn là những biện pháp quan trọng. |
Bác sỹ Phạm Thị Lan Anh, chuyên khoa tim mạch khi thăm khám bệnh nhân cho biết, căng thẳng và trầm cảm kéo dài có thể ảnh hưởng tới nhiều hệ cơ quan. Những thay đổi liên quan đến phản ứng viêm, hoạt động thần kinh - nội tiết và chức năng tiểu cầu được xem là những cơ chế góp phần kết nối sức khỏe tâm thần với nguy cơ tim mạch.
Tình trạng viêm mạn tính kéo dài có liên quan đến quá trình hình thành và tiến triển của xơ vữa động mạch. Trầm cảm cũng có thể đi kèm những thay đổi trong hoạt động tiểu cầu, tạo thêm yếu tố thuận lợi cho hình thành huyết khối. Cùng với các tác động sinh học, những thay đổi về lối sống ở người trầm cảm tiếp tục làm nguy cơ tim mạch trở nên phức tạp hơn.
Người mắc trầm cảm có thể giảm động lực chăm sóc bản thân, ít vận động, ăn uống thiếu lành mạnh, mất ngủ, hút thuốc lá hoặc không tuân thủ đầy đủ việc điều trị các bệnh nền. Nhiều yếu tố nguy cơ cùng tồn tại trong thời gian dài có thể tác động bất lợi tới huyết áp, đường huyết, mỡ máu và sức khỏe tim mạch nói chung.
Mối liên hệ này đặc biệt đáng lưu ý ở người đã mắc bệnh tim. Trầm cảm có thể ảnh hưởng tới khả năng tuân thủ thuốc, tái khám và thay đổi lối sống, trong lúc bản thân bệnh tim mạch cũng tạo thêm gánh nặng tâm lý cho người bệnh. Hai vấn đề sức khỏe có thể tác động qua lại, làm quá trình quản lý bệnh trở nên khó khăn hơn.
Bác sỹ Lan Anh dẫn số liệu nghiên cứu của Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia Mỹ cho thấy, những người có triệu chứng trầm cảm kéo dài trong vòng 6 tháng sau nhồi máu cơ tim ghi nhận nguy cơ tử vong cao hơn 14% so với nhóm không bị trầm cảm.
Những bằng chứng ngày càng rõ về mối liên hệ giữa sức khỏe tâm thần và tim mạch cũng đang thay đổi cách quản lý người bệnh. Năm 2025, Hiệp hội Tim mạch châu Âu công bố đồng thuận lâm sàng về sức khỏe tâm thần và bệnh tim mạch, nhấn mạnh nhu cầu quan tâm tới sức khỏe tâm thần ở bệnh nhân tim mạch, đồng thời đánh giá nguy cơ tim mạch ở những người có vấn đề về sức khỏe tâm thần.
Sự thay đổi trong cách tiếp cận có ý nghĩa bởi một bệnh nhân tim mạch có thể cần nhiều hơn thuốc điều trị huyết áp, rối loạn mỡ máu hay bệnh mạch vành. Những biểu hiện mất ngủ kéo dài, lo âu, giảm hứng thú, mệt mỏi, suy giảm khả năng tập trung hoặc những dấu hiệu nghi ngờ trầm cảm cũng cần được nhận diện và đánh giá phù hợp.
Ở chiều ngược lại, người đang điều trị các vấn đề sức khỏe tâm thần cũng cần quan tâm tới huyết áp, đường huyết, mỡ máu, cân nặng và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác. Việc đánh giá nên dựa trên tình trạng cụ thể của từng người thay vì thực hiện hàng loạt các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh không có chỉ định.
Bác sỹ Lan Anh cho rằng phối hợp giữa các chuyên khoa Tim mạch, Nội thần kinh - Tâm lý và Dinh dưỡng có thể giúp đánh giá toàn diện hơn những yếu tố nguy cơ. Các phương tiện như điện tâm đồ, Holter điện tim, Holter huyết áp, siêu âm tim hoặc những kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu được lựa chọn dựa trên triệu chứng, tiền sử và đánh giá của bác sỹ.
Bên cạnh điều trị chuyên môn, duy trì vận động thể chất đều đặn có lợi cho cả sức khỏe tinh thần lẫn tim mạch. Người trưởng thành có thể lựa chọn đi bộ, đạp xe, bơi hoặc những hình thức vận động phù hợp với thể trạng. Với người đã mắc bệnh tim, cường độ tập luyện cần được điều chỉnh dựa trên tình trạng sức khỏe và hướng dẫn chuyên môn.
Chế độ ăn cũng cần được chú ý, ưu tiên rau xanh, trái cây, các loại hạt và nguồn chất béo có lợi, đồng thời hạn chế thực phẩm chứa nhiều chất béo bão hòa, đường và muối. Rượu bia, thuốc lá và các chất kích thích có thể làm bất lợi thêm cả sức khỏe tâm thần lẫn tim mạch nên cần hạn chế hoặc loại bỏ.
Giấc ngủ là một phần quan trọng khác của quá trình chăm sóc sức khỏe. Duy trì thời gian ngủ phù hợp, sắp xếp công việc hợp lý, dành thời gian nghỉ ngơi và lựa chọn những hoạt động thư giãn phù hợp có thể hỗ trợ giảm căng thẳng. Các biểu hiện buồn bã, mất hứng thú, rối loạn giấc ngủ, suy giảm năng lượng hoặc khó tập trung kéo dài cần được trao đổi với nhân viên y tế để được đánh giá, thay vì tự chịu đựng hoặc tự sử dụng thuốc.
Đối với người có nguy cơ tim mạch, kiểm tra định kỳ huyết áp, đường huyết, mỡ máu và quản lý tốt các bệnh nền vẫn là những biện pháp quan trọng. Người đã được chẩn đoán bệnh tim cần tuân thủ điều trị, tái khám đúng lịch và trao đổi với bác sỹ nếu xuất hiện những thay đổi đáng kể về tâm trạng, giấc ngủ hoặc khả năng thực hiện các sinh hoạt thường ngày.
Sỏi niệu quản ở người trẻ và nguy cơ tổn thương thận nếu chậm xử trí
Một viên sỏi niệu quản chỉ 4 mm đã khiến nam thanh niên 23 tuổi đau quặn dữ dội, tiểu buốt, tiểu rắt và xuất hiện tình trạng ứ nước, giãn đài bể thận. Ca bệnh cho thấy kích thước sỏi không phải yếu tố duy nhất quyết định mức độ nguy hiểm, vị trí mắc kẹt và khả năng gây tắc nghẽn đường tiểu cũng cần được đặc biệt lưu ý.
Bệnh nhân N.N.M, 23 tuổi, Hà Nội, nhập viện cấp cứu với cơn đau quặn dữ dội vùng thắt lưng trái, lan xuống hạ vị, kèm tiểu khó, tiểu buốt và tiểu rắt. Các triệu chứng xuất hiện ở độ tuổi còn khá trẻ, trong lúc sỏi tiết niệu vẫn thường được nhiều người liên tưởng tới nhóm trung niên hoặc lớn tuổi.
Qua thăm khám, siêu âm ổ bụng và chụp cắt lớp vi tính hệ tiết niệu, các bác sỹ Chuyên khoa Ngoại, Hệ thống Y tế MEDLATEC phát hiện viên sỏi kích thước 4 mm mắc tại đoạn 1/3 dưới niệu quản trái. Kích thước không lớn nhưng viên sỏi đã cản trở dòng nước tiểu, gây giãn niệu quản và ứ nước đài bể thận trái. Điều trị nội khoa trước đó không mang lại kết quả như mong muốn.
Sỏi niệu quản hình thành tại thận rồi di chuyển xuống niệu quản hoặc xuất hiện trực tiếp trong đường tiết niệu. Mức độ ảnh hưởng không hoàn toàn tỷ lệ với kích thước viên sỏi. Một viên sỏi nhỏ vẫn có thể gây đau dữ dội và tạo tắc nghẽn nếu mắc tại vị trí hẹp của niệu quản.
Cơn đau quặn thận thường xuất hiện đột ngột, dữ dội ở vùng hông lưng, có thể lan xuống bụng dưới, bẹn hoặc cơ quan sinh dục. Người bệnh cũng có thể gặp các biểu hiện như tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu khó hoặc tiểu máu. Tắc nghẽn kéo dài làm nước tiểu không lưu thông bình thường, gây ứ nước tại thận và tạo áp lực lên hệ tiết niệu phía trên.
Các bác sỹ nhận định trường hợp của bệnh nhân M. cần được xử trí do viên sỏi đã gây tắc nghẽn, giãn niệu quản, ứ nước đài bể thận và không đáp ứng điều trị nội khoa. Tình trạng bế tắc đường tiểu kéo dài có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu, ứ mủ thận và ảnh hưởng chức năng thận.
Sau đánh giá, ê-kíp lựa chọn nội soi niệu quản ngược dòng tán sỏi bằng laser. Phương pháp tiếp cận viên sỏi qua đường niệu đạo, bàng quang rồi đi vào niệu quản, không cần tạo đường mổ trên da.
Dưới quan sát trực tiếp qua hệ thống nội soi, năng lượng laser được sử dụng để phá viên sỏi thành những mảnh nhỏ, sau đó lấy hoặc đưa các mảnh sỏi ra ngoài. Kết thúc thủ thuật, bác sỹ đặt ống thông JJ trong niệu quản nhằm hỗ trợ dẫn lưu nước tiểu và duy trì sự thông thoáng của đường niệu trong giai đoạn phục hồi.
So với phẫu thuật mở, nội soi ngược dòng hạn chế mức độ xâm lấn, không tạo sẹo mổ ngoài da và thường giúp người bệnh phục hồi sớm hơn. Tuy nhiên, lựa chọn phương pháp điều trị sỏi niệu quản còn phụ thuộc kích thước, vị trí sỏi, mức độ tắc nghẽn, tình trạng nhiễm trùng, chức năng thận và đặc điểm sức khỏe của từng bệnh nhân.
Ca can thiệp của bệnh nhân M. diễn biến thuận lợi. Sau tán sỏi, người bệnh có thể đi lại, ăn uống và được xuất viện sau ba ngày điều trị hậu phẫu. Ống JJ tiếp tục được lưu lại tạm thời và cần được rút đúng thời điểm theo chỉ định.
Điều trị thành công viên sỏi hiện tại chưa đồng nghĩa nguy cơ sỏi tiết niệu đã được loại bỏ lâu dài. Người từng mắc sỏi có khả năng tái phát, đặc biệt nếu các yếu tố thuận lợi cho hình thành sỏi không được nhận diện và điều chỉnh. Nguồn tài liệu của bệnh viện dẫn tỷ lệ tái phát có thể lên tới 50% trong vòng 5-10 năm.
Sau tán sỏi, người bệnh cần tái khám đúng lịch và rút ống JJ theo chỉ định, thường sau khoảng 2-4 tuần tùy tình trạng cụ thể. Việc quên hoặc tự ý kéo dài thời gian lưu ống có thể gây thêm các vấn đề cho đường tiết niệu.
Bổ sung đủ nước cũng giữ vai trò quan trọng trong phòng sỏi tái phát. Lượng nước cần thiết nên được điều chỉnh phù hợp với thể trạng, mức độ vận động, thời tiết và các bệnh lý đi kèm. Khuyến cáo của cơ sở điều trị đối với trường hợp này là duy trì khoảng 2,5-3 lít nước mỗi ngày nếu không có chống chỉ định về tim, thận hoặc các bệnh lý cần hạn chế dịch.
Chế độ ăn cần giảm muối, hạn chế quá nhiều đạm động vật, tăng rau xanh và trái cây. Người từng mắc sỏi cũng không nên tự ý loại bỏ hoàn toàn canxi khỏi khẩu phần. Nguồn canxi từ thực phẩm cần được duy trì ở mức phù hợp, còn việc bổ sung canxi bằng thuốc hoặc thực phẩm bổ sung nên dựa trên tư vấn chuyên môn.
Duy trì vận động, kiểm soát cân nặng và tìm hiểu thành phần sỏi ở những trường hợp phù hợp có thể giúp bác sỹ xây dựng biện pháp phòng tái phát sát hơn với từng người. Sỏi canxi oxalat, sỏi axit uric, sỏi struvite hay các loại sỏi khác có những yếu tố nguy cơ và hướng dự phòng không hoàn toàn giống nhau.
Các biểu hiện đau dữ dội vùng hông lưng kèm sốt, rét run, nôn nhiều, tiểu máu, tiểu khó hoặc giảm lượng nước tiểu cần được thăm khám sớm. Đặc biệt, sỏi gây tắc nghẽn đi kèm nhiễm trùng đường tiết niệu có thể tiến triển nặng và cần xử trí khẩn cấp.
Đưa công nghệ tế bào gốc từ nghiên cứu đến điều trị an toàn
Y học tái tạo đang mở thêm hướng nghiên cứu cho nhiều bệnh lý mạn tính trong bối cảnh dân số già hóa nhanh. Tuy nhiên, để tế bào gốc thực sự trở thành một lựa chọn điều trị, yêu cầu quan trọng nhất vẫn là nghiên cứu lâm sàng chặt chẽ, chứng minh tính an toàn, hiệu quả và chuẩn hóa quy trình trước khi triển khai rộng rãi.
Già hóa dân số đang làm thay đổi mô hình chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam, với số người cao tuổi và người mắc các bệnh mạn tính ngày càng tăng. Không chỉ kéo dài tuổi thọ, bài toán lớn hơn của hệ thống y tế là giúp người dân duy trì khả năng vận động, tự chăm sóc và có thêm những năm sống khỏe mạnh.
Trong bối cảnh ấy, y học tái tạo, đặc biệt là nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc, đang nhận được sự quan tâm như một hướng phát triển mới. Bệnh viện Hữu Nghị mới đây đã ký kết thỏa thuận hợp tác nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc trung mô trong điều trị lâm sàng với Hệ thống Y tế Mescells, hướng tới nghiên cứu khả năng ứng dụng công nghệ này đối với một số bệnh lý mạn tính.
PGS-TS.Nguyễn Thế Anh, Giám đốc Bệnh viện Hữu Nghị cho biết, Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, kéo theo sự gia tăng nhiều bệnh lý liên quan đến tuổi tác, trong đó các bệnh cơ xương khớp ảnh hưởng đáng kể tới sinh hoạt, khả năng vận động và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.
Thực tế điều trị cho thấy, nhiều người cao tuổi vẫn duy trì tốt khả năng nhận thức nhưng chức năng vận động và khả năng tự phục vụ suy giảm do thoái hóa cơ xương khớp. Từ nhu cầu kéo dài thời gian sống có chất lượng cho người bệnh, Bệnh viện Hữu nghị xác định y học tái tạo là một trong những hướng nghiên cứu cần được quan tâm, trong đó có khả năng sử dụng tế bào gốc nhằm hỗ trợ cải thiện chức năng của một số cơ quan và hệ thống khớp bị thoái hóa.
Tế bào gốc trung mô đang được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực của y học tái tạo. Tại Việt Nam, việc làm chủ công nghệ sản xuất tế bào gốc trung mô cũng đang tạo tiền đề cho những bước nghiên cứu tiếp theo, đặc biệt là thử nghiệm lâm sàng để đánh giá đầy đủ tính an toàn và hiệu quả trên người bệnh Việt Nam.
PGS-TS.Nguyễn Thế Anh cho biết, Bệnh viện Hữu Nghị đang nghiên cứu, triển khai ứng dụng công nghệ tế bào gốc với kỳ vọng, nếu các nghiên cứu chứng minh được tính an toàn và hiệu quả, công nghệ có thể từng bước được mở rộng để thêm người bệnh trong nước có cơ hội tiếp cận.
Hướng phát triển này cũng được kỳ vọng góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ y học mới ngay tại Việt Nam, qua đó giảm nhu cầu người bệnh phải ra nước ngoài tìm kiếm những phương pháp điều trị tương tự với chi phí lớn.
Tuy nhiên, khoảng cách từ sản xuất được tế bào gốc đạt yêu cầu đến một phương pháp có thể áp dụng thường quy trên người bệnh còn phải trải qua những bước đánh giá nghiêm ngặt. Các nghiên cứu tiền lâm sàng, thử nghiệm lâm sàng, lựa chọn đối tượng phù hợp, xác định liều lượng, đường sử dụng, theo dõi tác dụng không mong muốn và đánh giá hiệu quả lâu dài đều cần được thực hiện theo quy trình khoa học.
Vì vậy, những kết quả nghiên cứu bước đầu về tế bào gốc trung mô không đồng nghĩa công nghệ này có thể được sử dụng rộng rãi cho mọi bệnh mạn tính. Việc ứng dụng phải gắn với từng chỉ định cụ thể và dựa trên bằng chứng thu được qua các nghiên cứu lâm sàng được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
TS.Nguyễn Ngô Quang, Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo (Bộ Y tế) nhấn mạnh, nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc trên lâm sàng phải được thực hiện hết sức chặt chẽ và khoa học, với yêu cầu về an toàn và hiệu quả điều trị đặt lên hàng đầu.
Cơ quan quản lý của Bộ Y tế sẽ hỗ trợ về chuyên môn và quản lý trong quá trình xây dựng, chuẩn hóa quy trình nghiên cứu, theo dõi, giám sát và đánh giá phương pháp, hướng tới bảo đảm hoạt động nghiên cứu tại Bệnh viện Hữu Nghị đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn và hiệu quả.
Yêu cầu này đặc biệt quan trọng với công nghệ tế bào, bởi những kỳ vọng lớn của người bệnh đối với các phương pháp mới cũng có thể tạo ra nguy cơ ứng dụng quá sớm nếu thiếu các bằng chứng khoa học đầy đủ. Một công nghệ có tiềm năng chỉ có thể trở thành phương pháp điều trị đáng tin cậy sau quá trình kiểm chứng về chất lượng sản phẩm, độ an toàn, hiệu quả và khả năng kiểm soát rủi ro.
Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ sở điều trị, đơn vị nghiên cứu và phát triển công nghệ vì thế giữ vai trò quan trọng trong quá trình đưa tế bào gốc từ phòng nghiên cứu đến ứng dụng lâm sàng, bảo đảm từng bước triển khai có cơ sở khoa học và tuân thủ các quy định pháp luật.
Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo hiện cũng nhận được một số đề xuất và dự kiến tổ chức các nghiên cứu lâm sàng hoàn chỉnh, đa trung tâm tại những bệnh viện đủ điều kiện đối với một số chỉ định sử dụng tế bào gốc từ dây rốn, như viêm gan, xơ gan mất bù hoặc điều trị dự phòng chống thải ghép. Khả năng ứng dụng thực tế sẽ phụ thuộc vào kết quả của các nghiên cứu này.