Mở hướng nghiên cứu tế bào gốc hỗ trợ điều trị xơ gan do viêm gan B
Việt Nam có tỷ lệ người nhiễm virus viêm gan B cao, trong lúc quá trình điều trị và kiểm soát những tổn thương gan tiến triển vẫn đặt ra nhiều thách thức. Từ thực tế này, một hướng nghiên cứu mới đang được các chuyên gia về gan mật và tế bào gốc đặt ra với mục tiêu đánh giá khả năng sử dụng tế bào gốc trung mô từ mô dây rốn để hỗ trợ điều trị người bệnh xơ gan do viêm gan B.
Đề xuất được thảo luận tại hội thảo xây dựng đề cương nghiên cứu ngày 8/9 với sự tham gia của các chuyên gia đến từ nhiều bệnh viện và đơn vị nghiên cứu. Thay vì triển khai ngay trên người bệnh, bước đi hiện tại tập trung xây dựng một đề cương đủ chặt chẽ để trả lời những câu hỏi quan trọng về chất lượng tế bào, đối tượng có khả năng hưởng lợi, thời điểm can thiệp, liều lượng và cách đánh giá hiệu quả.
| Việt Nam có tỷ lệ người nhiễm virus viêm gan B cao, trong lúc quá trình điều trị và kiểm soát những tổn thương gan tiến triển vẫn đặt ra nhiều thách thức. |
GS-TS.Phạm Mạnh Hùng, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết, Việt Nam có tỷ lệ người nhiễm virus viêm gan B trên 10% dân số. Bệnh có thể tiến triển thành viêm gan mạn tính, xơ gan hoặc ung thư gan, tạo ra gánh nặng điều trị kéo dài đối với người bệnh và hệ thống y tế.
Một trong những cơ sở để các nhà khoa học quan tâm đến tế bào gốc trung mô nằm ở cơ chế tổn thương gan của người mắc viêm gan B. GS-TS.Phạm Mạnh Hùng phân tích, tổn thương tế bào gan không chủ yếu xuất phát từ việc virus trực tiếp tiêu diệt tế bào, mà liên quan đến phản ứng của hệ miễn dịch trong quá trình tìm cách loại bỏ virus tồn tại bên trong tế bào gan.
Tế bào gốc trung mô có khả năng điều hòa đáp ứng miễn dịch và đã được nghiên cứu trong nhiều bệnh lý. Trong số các nguồn tế bào được quan tâm, tế bào gốc trung mô từ mô dây rốn có lợi thế về nguồn cung, có thể thu thập từ mô dây rốn sau sinh và nuôi cấy để tạo sản phẩm tế bào phục vụ nghiên cứu.
Đối với xơ gan do viêm gan B, các nhà khoa học kỳ vọng khả năng điều hòa miễn dịch của tế bào gốc trung mô có thể góp phần hạn chế phản ứng viêm quá mức, từ đó hỗ trợ cải thiện chức năng gan. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã thử nghiệm loại tế bào này ở người bệnh xơ gan và suy gan, trong đó có các trường hợp liên quan đến virus viêm gan B.
Những kết quả ban đầu ghi nhận tế bào được truyền tương đối an toàn, người bệnh có khả năng dung nạp tốt và một số chỉ số chức năng gan, tình trạng viêm có thể được cải thiện. Tuy nhiên, khoảng cách từ những tín hiệu ban đầu đến một phương pháp điều trị được công nhận còn khá xa.
Bằng chứng hiện có chưa đủ để tế bào gốc trung mô trở thành phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho xơ gan do viêm gan B. Các kết quả cần tiếp tục được kiểm chứng thông qua những thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với quy mô lớn hơn, thiết kế nghiên cứu chặt chẽ và hệ thống tiêu chí đánh giá thống nhất.
Đây cũng là lý do GS-TS.Phạm Mạnh Hùng cho rằng Việt Nam cần hướng tới nghiên cứu đa trung tâm, trước mắt có thể triển khai tại một số cơ sở đủ năng lực rồi từng bước mở rộng. Một nghiên cứu được thực hiện ở nhiều trung tâm có thể tạo điều kiện đánh giá liệu kết quả thu được có ổn định trên các nhóm người bệnh và điều kiện điều trị khác nhau hay không.
Ông đề xuất nghiên cứu trên nhóm người bệnh xơ gan mất bù do virus viêm gan B có điểm Child-Pugh từ 7 đến 12. Đây là thang điểm được sử dụng để đánh giá mức độ suy giảm chức năng gan. Nhóm nghiên cứu có thể tiếp tục chia người bệnh thành hai mức từ 7-9 điểm và 10-12 điểm, qua đó đánh giá liệu khả năng hưởng lợi từ tế bào gốc có khác nhau giữa các giai đoạn bệnh hay không.
Việc xác định thời điểm can thiệp cũng được GS-TS.Nguyễn Thanh Liêm, Viện trưởng Nghiên cứu Tế bào gốc và Công nghệ gene Vinmec đặc biệt lưu ý. Ông cho rằng hướng nghiên cứu nên tập trung vào người bệnh xơ gan mất bù nhưng chưa ở giai đoạn quá nặng, lúc chức năng gan vẫn còn khả năng phục hồi.
Bài toán liều lượng cũng cần được tính toán thận trọng. GS-TS.Nguyễn Thanh Liêm đề xuất sử dụng liều phù hợp và có thể lặp lại nhiều lần thay vì lựa chọn liều cao ngay từ đầu. Phương án này vừa cần được xem xét trên phương diện hiệu quả, vừa liên quan đến chi phí và nguy cơ biến chứng trong quá trình điều trị.
Không kém phần quan trọng là chất lượng của chính sản phẩm tế bào được đưa vào nghiên cứu. PGS.TS Phạm Văn Phúc, Viện trưởng Tế bào gốc, Đại học Quốc gia TP.HCM đánh giá tế bào gốc trung mô từ dây rốn là nguồn phù hợp cho hướng nghiên cứu này, nhưng chất lượng tế bào giữa các cơ sở có thể không giống nhau do khác biệt về nguồn dây rốn và quy trình nuôi cấy.
Bởi vậy, chuẩn hóa sản phẩm được xem là điều kiện tiên quyết nếu muốn kết quả nghiên cứu có độ tin cậy và khả năng so sánh. Tế bào sử dụng cho nghiên cứu cần được cung cấp từ các ngân hàng mô được cấp phép, đồng thời hướng tới những tiêu chuẩn sản xuất nghiêm ngặt như GMP.
Mờ mắt đột ngột có thể là tín hiệu cảnh báo đột quỵ
Mắc đái tháo đường khoảng 10 năm, ông Trí, 50 tuổi đã quen với việc phải theo dõi những biến chứng có thể xuất hiện sau thời gian dài sống chung với bệnh. Bởi vậy, lúc mắt trái đột ngột yếu dần, suy nghĩ đầu tiên của ông là thị lực đang bị ảnh hưởng bởi đái tháo đường. Kết quả kiểm tra sau đó lại cho thấy nguyên nhân nằm ở não, người bệnh đã bị đột quỵ nhồi máu não.
Ông Trí đến viện kiểm tra trong tình trạng không xuất hiện những dấu hiệu thường được biết đến của đột quỵ như yếu liệt tay chân, méo miệng hay nói khó. Bác sỹ Phạm Thị Thanh Trúc, khi thăm khám cho bệnh nhân phát hiện, tình trạng mất thị lực đột ngột ở một bên có thể liên quan đến tổn thương não nên người bệnh được chỉ định chụp MRI để xác định nguyên nhân.
Kết quả MRI 3 Tesla sọ não phát hiện bất thường tín hiệu tại thùy chẩm phải, phù hợp với một ổ nhồi máu não mới. Kiểm tra chuyên sâu ghi nhận ông Trí bị bán manh hoàn toàn bên trái, khiến người bệnh không nhìn thấy phần không gian phía bên trái.
Thùy chẩm nằm ở phía sau não, đảm nhiệm chức năng xử lý thông tin thị giác. Tổn thương tại khu vực này có thể khiến đột quỵ biểu hiện chủ yếu bằng những bất thường về thị lực thay vì các triệu chứng vận động thường gặp. Người bệnh có thể mờ mắt, mất một phần trường nhìn nhưng vẫn đi lại, nói chuyện và cử động tay chân tương đối bình thường, tạo cảm giác tình trạng chưa thực sự nguy hiểm.
Chính đặc điểm này khiến một số trường hợp có nguy cơ bị nhận diện muộn. Với người mắc đái tháo đường lâu năm như ông Trí, khả năng nhầm lẫn càng lớn bởi mờ mắt cũng thường khiến người bệnh nghĩ đến các biến chứng tại mắt liên quan đến đường huyết.
Ông Trí nhập viện vào giờ thứ 4 kể từ thời điểm xuất hiện triệu chứng. Tình trạng thiếu hụt thần kinh đã ảnh hưởng rõ đến chức năng thị giác, khả năng đi lại, sinh hoạt và công việc. Sau khi đánh giá tình trạng người bệnh, các bác sỹ chỉ định thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch nhằm tái thông mạch máu, hạn chế vùng não tiếp tục tổn thương và giảm nguy cơ để lại di chứng.
Người bệnh đồng thời được điều trị thuốc kháng đông, kiểm soát huyết áp và đường huyết bằng insulin tiêm dưới da. Sau 5 ngày, thị lực cải thiện rõ rệt, không xuất hiện yếu liệt tay chân. Điểm NIHSS giảm về 0, cho thấy không còn biểu hiện thiếu hụt thần kinh trên thang đánh giá này và người bệnh có thể trở lại sinh hoạt bình thường.
Sự hồi phục của ông Trí cho thấy giá trị của việc nhận diện sớm những biểu hiện bất thường, ngay cả lúc triệu chứng không giống hình dung phổ biến về một cơn đột quỵ. Nếu tình trạng mờ mắt tiếp tục được xem đơn thuần là biến chứng của đái tháo đường và người bệnh trì hoãn đến bệnh viện, cơ hội điều trị trong giai đoạn sớm có thể bị thu hẹp.
BS.CKI Phạm Thị Thanh Trúc lưu ý, đột quỵ không phải trường hợp nào cũng xuất hiện méo miệng, nói khó hay yếu liệt tay chân. Tổn thương thùy chẩm có thể khiến người bệnh chỉ gặp rối loạn thị giác như nhìn mờ hoặc mất một phần trường nhìn. Những thay đổi thị lực xuất hiện đột ngột vì vậy không nên được xem nhẹ, nhất là ở người có sẵn các yếu tố nguy cơ tim mạch và chuyển hóa.
Với người mắc đái tháo đường, vấn đề còn nằm ở nguy cơ tổn thương mạch máu tích lũy trong thời gian dài. Bác sỹ Trúc cảnh báo nguy cơ tái đột quỵ vẫn có thể xảy ra nếu ông Trí không kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ. HbA1c duy trì ở mức cao kéo dài có thể làm gia tăng tổn thương mạch máu, từ đó làm tăng nguy cơ các biến cố tim mạch và não.
Đái tháo đường cũng tạo ra một tình huống dễ gây chủ quan trong nhận diện triệu chứng. Người bệnh vốn đã được cảnh báo về nguy cơ tổn thương mắt nên mờ mắt có thể nhanh chóng được quy về biến chứng của bệnh nền. Trong khi đó, nếu thay đổi thị lực xuất hiện đột ngột, nguyên nhân cần được đánh giá rộng hơn, bao gồm khả năng tổn thương thần kinh và mạch máu não.
Không chỉ người mắc đái tháo đường, những trường hợp tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, béo phì, rung nhĩ hoặc từng bị đột quỵ cũng thuộc nhóm cần kiểm soát chặt các yếu tố nguy cơ. Dùng thuốc đúng chỉ định, tái khám định kỳ và thực hiện các kiểm tra cần thiết giúp phát hiện sớm những bất thường, qua đó giảm khả năng xảy ra đột quỵ hoặc tái phát biến cố.
Cảnh báo dấu hiệu viêm loét đại tràng cần thăm khám
Đại tiện ra máu kéo dài không chỉ liên quan đến những bệnh lý thường gặp ở hậu môn - trực tràng mà còn có thể là biểu hiện của viêm loét đại tràng, một bệnh viêm ruột mạn tính có nguy cơ tái phát và gây biến chứng nếu không được phát hiện, kiểm soát đúng cách.
Hai tháng liên tục đi ngoài phân nát kèm máu đỏ tươi, mỗi ngày khoảng 3-4 lần nhưng không đau bụng, không sốt, không buồn nôn, người phụ nữ 59 tuổi ở Tuyên Quang ban đầu chưa nghĩ tình trạng của mình liên quan đến một bệnh lý viêm ruột mạn tính.
Trước đó, người bệnh từng nội soi đại trực tràng tại một cơ sở y tế địa phương, sau đó điều trị khoảng một tháng nhưng triệu chứng không cải thiện. Việc đại tiện ra máu vẫn tái diễn khiến người bệnh đến Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC kiểm tra lại.
Khám toàn thân chưa ghi nhận bất thường rõ rệt. Khám hậu môn - trực tràng phát hiện một ít máu đỏ tươi theo găng. Người bệnh được chỉ định thực hiện các thăm dò cần thiết để xác định nguyên nhân.
Kết quả nội soi đại trực tràng cho thấy niêm mạc trực tràng viêm sung huyết, mạng lưới mạch máu bị mờ và xuất hiện những điểm xuất huyết rải rác trên bề mặt niêm mạc. Trước những dấu hiệu bất thường này, các bác sỹ tiến hành sinh thiết nhiều mảnh niêm mạc trực tràng để làm xét nghiệm mô bệnh học.
Kết quả cho thấy tình trạng viêm đại tràng mạn tính đang hoạt động. Kết hợp triệu chứng lâm sàng, hình ảnh nội soi và mô bệnh học, người bệnh được chẩn đoán viêm loét đại trực tràng chảy máu thể khu trú trực tràng, mức độ nhẹ và được chỉ định điều trị.
ThS.BS Lưu Thị Minh Huế, Trung tâm Tiêu hóa MEDLATEC cho biết, viêm loét đại tràng thuộc nhóm bệnh viêm ruột mạn tính, gây tổn thương niêm mạc đại tràng, thường bắt đầu từ trực tràng rồi có thể lan lên những đoạn đại tràng phía trên.
Bệnh thường diễn biến thành từng đợt, xen kẽ giữa giai đoạn hoạt động và thời kỳ thuyên giảm. Biểu hiện lâm sàng thay đổi tùy vị trí tổn thương và mức độ viêm, trong đó đi ngoài ra máu là một trong những dấu hiệu thường gặp nhất.
Người bệnh có thể đồng thời xuất hiện cảm giác mót rặn, tăng số lần đại tiện, phân lỏng hoặc phân nát, đau bụng từng cơn và chướng bụng. Ở giai đoạn bệnh hoạt động mạnh hơn, sốt, mệt mỏi, sụt cân, thiếu máu hoặc các biểu hiện toàn thân khác có thể xuất hiện.
Một số trường hợp còn có biểu hiện ngoài đường tiêu hóa như đau hoặc sưng khớp, tổn thương da, mắt và các bất thường liên quan đến gan mật.
Điểm đáng lưu ý là triệu chứng đại tiện ra máu không đặc hiệu cho riêng viêm loét đại tràng. Nhiều bệnh lý khác ở đường tiêu hóa cũng có thể biểu hiện tương tự, từ bệnh lý vùng hậu môn - trực tràng đến polyp, tổn thương viêm, nhiễm trùng hoặc ung thư đại trực tràng. Chính sự chồng lấp về triệu chứng khiến việc chẩn đoán chỉ dựa vào biểu hiện bên ngoài dễ dẫn tới nhầm lẫn.
Bác sỹ Huế cho biết nội soi đại tràng giữ vai trò quan trọng trong xác định phạm vi tổn thương và mức độ hoạt động của bệnh. Niêm mạc bình thường có mạng lưới mao mạch rõ, nhưng ở người mắc viêm loét đại tràng, hệ mạch này có thể giảm hoặc mất, niêm mạc trở nên sung huyết, phù nề, thô ráp và dễ chảy máu.
Ở những trường hợp tổn thương rõ hơn, niêm mạc có thể chảy máu ngay cả khi không có tác động hoặc xuất hiện các ổ loét nông. Với bệnh kéo dài, nội soi có thể ghi nhận giả polyp, mất nếp niêm mạc, hẹp lòng đại tràng hoặc các cầu niêm mạc.
Các bác sỹ khuyến cáo người có tình trạng đại tiện ra máu kéo dài hoặc tái diễn, nhất là lúc kèm thay đổi thói quen đi ngoài, tiêu chảy, mót rặn, đau bụng, mệt mỏi hoặc sụt cân không rõ nguyên nhân, nên chủ động thăm khám chuyên khoa Tiêu hóa.