Y tế - Sức khỏe
Viêm gan B từ mẹ sang con, nguy cơ bệnh tật kéo dài nhiều thập kỷ
D.Ngân - 27/09/2026 16:27
Trẻ nhiễm virus viêm gan B từ mẹ có nguy cơ tiến triển thành nhiễm mạn tính lên tới 85-90%. Một lần lây truyền ở thời điểm sơ sinh có thể kéo theo nguy cơ viêm gan mạn tính, xơ gan, ung thư gan trong nhiều thập kỷ và tiếp tục duy trì nguồn lây trong cộng đồng.

Ở tuần thai thứ 34, một phụ nữ 32 tuổi ở Hưng Yên nhập Viện Y học nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai với biểu hiện mệt mỏi, ăn uống kém, vàng da, vàng mắt tăng dần. Người bệnh đã biết mình nhiễm viêm gan B nhiều năm nhưng không điều trị do cơ thể gần như không có biểu hiện bất thường.

Trẻ nhiễm virus viêm gan B từ mẹ có nguy cơ tiến triển thành nhiễm mạn tính lên tới 85-90%.

Kết quả thăm khám xác định người bệnh đang trải qua đợt viêm gan B bùng phát nặng vào những tuần cuối thai kỳ. Tỷ lệ prothrombin chỉ còn 57%, cho thấy chức năng đông máu suy giảm. Các bác sỹ phải theo dõi sát nguy cơ rối loạn đông máu, chảy máu, suy gan cùng những biến chứng có thể ảnh hưởng đến cả mẹ và thai nhi.

Chồng người bệnh cũng nhiễm viêm gan B. Suốt thời gian dài, cả hai gần như không có triệu chứng nên việc theo dõi và quản lý bệnh chưa được thực hiện đầy đủ.

Bác sỹ nội trú Nguyễn Thị Thu Trang, Khoa Viêm gan virus, Viện Y học nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, phụ nữ mang thai nhiễm virus viêm gan B (HBV) cần được quản lý chặt chẽ nhằm đồng thời bảo vệ sức khỏe người mẹ và ngăn virus truyền sang con.

Nguy cơ lây truyền tăng rõ rệt ở những thai phụ có tải lượng virus cao. Người có HBsAg dương tính cần được đánh giá HBV-DNA, chức năng gan và mức độ tổn thương gan để xác định chỉ định điều trị cho mẹ, đồng thời lựa chọn biện pháp dự phòng phù hợp cho trẻ.

Trường hợp sản phụ trên cũng cho thấy một đặc điểm dễ khiến người nhiễm HBV chủ quan: không có triệu chứng không có nghĩa virus không còn nguy hiểm. Hoạt động của HBV có thể thay đổi theo thời gian, tổn thương gan vẫn có thể tiến triển và người mang virus vẫn có khả năng trở thành nguồn lây.

Mối nguy đặc biệt của lây truyền HBV từ mẹ sang con còn nằm ở tuổi nhiễm virus. Ở người trưởng thành có hệ miễn dịch khỏe mạnh, tỷ lệ chuyển từ nhiễm HBV cấp tính sang mạn tính chỉ khoảng 2-5%. Với trẻ sơ sinh nhiễm HBV từ mẹ, nguy cơ trở thành nhiễm mạn tính có thể lên tới 85-90%.

Khoảng cách rất lớn giữa hai tỷ lệ cho thấy tại sao dự phòng lây truyền mẹ - con được xem là một mắt xích quan trọng trong kiểm soát viêm gan B. Trẻ nhiễm virus lúc mới chào đời có thể vẫn phát triển bình thường và không có biểu hiện rõ rệt, nhưng HBV có khả năng tồn tại trong cơ thể nhiều năm. Nhiễm HBV mạn tính làm tăng nguy cơ viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan, tạo ra gánh nặng sức khỏe kéo dài từ tuổi thơ đến tuổi trưởng thành.

TS-BS.Đỗ Văn Thành, Trưởng khoa Viêm gan virus, Phó Viện trưởng Viện Y học nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai nhấn mạnh, lây truyền HBV từ mẹ sang con không chỉ là câu chuyện của một thai phụ hay một gia đình. Trẻ nhiễm HBV có thể trở thành người mang virus mạn tính và tiếp tục truyền virus cho người khác trong những năm sau.

"Nếu không cắt đứt được đường lây truyền từ mẹ sang con, chúng ta không chỉ để lại gánh nặng bệnh tật cho một đứa trẻ mà còn có nguy cơ duy trì đường lây nhiễm trong gia đình và cộng đồng qua nhiều thế hệ", TS.Đỗ Văn Thành cảnh báo.

Điểm khác biệt quan trọng là nguy cơ này có thể chủ động giảm đáng kể nếu chuỗi dự phòng được thực hiện đầy đủ và đúng thời điểm. Phụ nữ có kế hoạch mang thai hoặc đang mang thai cần chủ động xét nghiệm sàng lọc viêm gan B, đặc biệt là HBsAg.

Thai phụ có HBsAg dương tính cần tiếp tục được đánh giá tải lượng virus, chức năng gan và mức độ tổn thương gan để bác sỹ xác định hướng theo dõi, điều trị cũng như dự phòng lây truyền sang con. Với trường hợp có tải lượng HBV cao, thuốc kháng virus có thể được chỉ định trong thai kỳ theo hướng dẫn chuyên môn.

Sau sinh là một khoảng thời gian đặc biệt quan trọng. Trẻ cần được tiêm vắc-xin viêm gan B càng sớm càng tốt, tối ưu trong 24 giờ đầu. Trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HBV cần được tiêm vắc-xin viêm gan B và huyết thanh kháng viêm gan B (HBIG) ngay sau sinh theo hướng dẫn chuyên môn.

Sàng lọc người mẹ, đánh giá tải lượng virus, điều trị đúng chỉ định trong thai kỳ và dự phòng cho trẻ sau sinh không phải những biện pháp tách rời. Chúng tạo thành một chuỗi bảo vệ liên tục, với mục tiêu ngăn virus truyền sang trẻ ngay từ điểm khởi đầu.

Liên quan đến việc phòng chống viêm gan B, theo chuyên gia của Hệ thống tiêm chủng Long Châu, tiêm phòng bằng vắc-xin là biện pháp hiệu quả. Hiện vắc-xin viêm gan B là vắc-xin tái tổ hợp, được sản xuất bằng công nghệ di truyền nhằm tổng hợp kháng nguyên bề mặt HBsAg của virus viêm gan B.

Đối với trẻ nhỏ, hai loại vắc-xin phối hợp 6 trong 1 là Infanrix Hexa của Bỉ và Hexaxim của Pháp được sử dụng phổ biến để phòng đồng thời sáu bệnh nguy hiểm gồm bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm gan B và các bệnh do vi khuẩn Hib gây ra. Các loại vắc-xin này được chỉ định theo lịch tiêm từ 2 tháng tuổi, giúp trẻ giảm số lần tiêm nhưng vẫn bảo đảm tạo miễn dịch đầy đủ.

Đối với trẻ lớn và người trưởng thành, hiện có nhiều lựa chọn như Twinrix, vắc-xin kết hợp phòng viêm gan A và B; Engerix B; Heberbiovac HB; Gen-HBVax và Euvax B. Mỗi loại có chỉ định, phác đồ tiêm và lịch nhắc lại khác nhau, song đều hướng tới mục tiêu tạo miễn dịch chủ động, giúp cơ thể phòng ngừa hiệu quả virus viêm gan B trong thời gian dài.

Theo khuyến cáo, việc tuân thủ đúng lịch tiêm có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả bảo vệ. Bỏ lỡ hoặc trì hoãn các mũi tiêm có thể làm giảm khả năng tạo miễn dịch hoặc kéo dài thời gian cơ thể chưa được bảo vệ đầy đủ trước virus.

Ngoài nhóm người khỏe mạnh có nguy cơ cao, nhiều nhóm bệnh nhân cũng được khuyến cáo tiêm phòng như người phải truyền máu thường xuyên, bệnh nhân suy giảm miễn dịch, người chạy thận nhân tạo hoặc ghép tạng. Đây đều là những đối tượng có nguy cơ phơi nhiễm virus cao và dễ gặp biến chứng nặng nếu mắc bệnh.

Tin liên quan
Tin khác