Đời sống
Đến năm 2045, phát triển 3 - 5 cơ sở đại học tinh hoa
D.Ngân - 22/09/2026 07:28
Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu phát triển 3-5 cơ sở thành đại học tinh hoa.

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1810/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045.

Chiến lược đặt mục tiêu đưa giáo dục đại học trở thành “hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia”, giữ vai trò nòng cốt trong phát triển nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước.

Đến năm 2035, Việt Nam đặt mục tiêu thu hút khoảng 5.000 giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia quốc tế và trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu trong nước. 

Đến năm 2035, Việt Nam phấn đấu 100% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn; tỷ lệ học đại học trong nhóm dân số 18-22 tuổi đạt 45%; người học sau đại học chiếm 15%; người học STEM chiếm 40% quy mô ở mỗi trình độ; 90% người tốt nghiệp có việc làm phù hợp trong vòng 12 tháng.

Một trong những định hướng xuyên suốt của Chiến lược là chuyển từ phát triển chủ yếu theo quy mô sang phát triển theo chất lượng, hiệu quả và mức độ đóng góp.

Hệ thống giáo dục đại học sẽ được phân loại theo nhóm giáo dục đại học đại chúng nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận; các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quốc gia, ngành và vùng; một số đại học tinh hoa phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.

Việc phân loại không nhằm phân hạng hành chính mà để xác định rõ sứ mạng, tiêu chuẩn, trách nhiệm và cơ chế đầu tư của từng nhóm cơ sở giáo dục đại học.

Cùng với đó, phương thức quản lý sẽ chuyển từ nặng về thủ tục hành chính sang quản trị chiến lược, quản trị bằng dữ liệu và kiến tạo phát triển. Cơ quan quản lý tập trung vào hoạch định, xây dựng chuẩn, giám sát và hậu kiểm, đồng thời cắt giảm các tầng nấc trung gian và thủ tục không cần thiết. Các trường được mở rộng tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình bằng dữ liệu và kết quả.

Phương thức đầu tư cũng được điều chỉnh theo hướng không phân bổ dàn đều mà tập trung dựa trên sứ mạng và sản phẩm đầu ra. Chiến lược định hướng lựa chọn khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, trong đó phát triển từ 3 đến 5 cơ sở thành đại học tinh hoa; ưu tiên các ngành then chốt, công nghệ chiến lược và nhiệm vụ phát triển quốc gia.

Chất lượng đầu ra và tác động kinh tế - xã hội sẽ trở thành những thước đo quan trọng, thể hiện qua năng lực của người học, việc làm sau tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và mức độ đóng góp cho ngành, địa phương và đất nước.

Năm học 2025-2026, toàn hệ thống giáo dục đại học có hơn 2,728 triệu người học, trong đó khoảng 2,58 triệu sinh viên đại học và 144.000 người học sau đại học. Tỷ lệ sinh viên đại học trong nhóm dân số 18-22 tuổi tăng từ 26,83% năm học 2023-2024 lên 36,16% năm học 2025-2026. Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt 36,3%.

Trong giai đoạn tới, tuyển sinh được định hướng chuyển từ mục tiêu “tuyển đủ” sang “tuyển đúng”, lựa chọn người học phù hợp và bảo đảm chất lượng. Chỉ tiêu tuyển sinh phải căn cứ vào chất lượng nguồn tuyển, đội ngũ, cơ sở vật chất, nhu cầu nhân lực và khả năng có việc làm sau tốt nghiệp.

Trong đào tạo, các trường đại học phải chuyển từ “đào tạo những gì mình đang có” sang “đào tạo những gì đất nước và xã hội cần”. Dữ liệu về nhu cầu nhân lực, việc làm, thu nhập và phản hồi của doanh nghiệp sẽ là căn cứ để mở ngành, điều chỉnh chương trình và xác định quy mô đào tạo.

Những ngành không bảo đảm chất lượng hoặc có nhu cầu thấp phải được rà soát. Các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược và ngành thiết yếu được định hướng hỗ trợ thông qua học bổng, đặt hàng và giao nhiệm vụ.

Đối với người học, chương trình đào tạo sẽ linh hoạt và gắn với thực tiễn hơn, tăng cường học qua dự án, thực hành, thực tập và hợp tác với doanh nghiệp. Thông tin về chất lượng chương trình, việc làm và thu nhập sau tốt nghiệp phải được công khai, kiểm chứng để người học có căn cứ lựa chọn.

Tinh thần xuyên suốt được xác định là “thực học, thực nghiệp, thực chất”, hướng tới học thật, thi thật, đánh giá đúng năng lực và bảo đảm người học sau tốt nghiệp có năng lực làm việc thực sự.

Chiến lược cũng đặt vấn đề giải quyết các điểm nghẽn về hạ tầng kỹ thuật, phòng thí nghiệm và thu hút nhân tài. Hạ tầng đại học hiện đại phải bao gồm đồng bộ phòng thí nghiệm, hạ tầng số, dữ liệu, trung tâm tính toán và không gian đổi mới sáng tạo.

Nhà nước sẽ tập trung nguồn lực cho các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, đại học tinh hoa và các ngành chiến lược; phát triển từ 20 đến 25 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc gia và 10 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc tế. Nòng cốt là các phòng thí nghiệm trọng điểm, hợp tác với doanh nghiệp công nghệ lớn và những đại học uy tín trên thế giới.

Hạ tầng nghiên cứu dùng chung cũng được chú trọng và thiết bị giá trị lớn, phòng thí nghiệm chuyên sâu, trung tâm tính toán hiệu năng cao và dữ liệu khoa học sẽ được tổ chức để nhiều trường, nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp cùng khai thác.

Đến năm 2035, Việt Nam đặt mục tiêu thu hút khoảng 5.000 giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia quốc tế và trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu trong nước. Việc đầu tư phải gắn với sản phẩm đầu ra, không đầu tư thiết bị để trưng bày hoặc xây dựng phòng thí nghiệm nhằm đạt chuẩn hình thức.

Một thay đổi khác là xây dựng bộ chỉ số cốt lõi về chất lượng, hiệu quả và mức độ đóng góp của các cơ sở giáo dục đại học, nhằm chuyển từ quản lý chủ yếu bằng hồ sơ, thủ tục sang quản trị bằng mục tiêu, dữ liệu và kết quả.

Bộ chỉ số tập trung vào 5 nhóm gồm chất lượng đào tạo và việc làm của người học; năng lực đội ngũ; kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; hiệu quả quản trị, sử dụng nguồn lực; mức độ đóng góp cho xã hội, ngành, vùng và đất nước.

Dữ liệu sẽ được cập nhật trên nền tảng số quản trị giáo dục quốc gia và từng bước kết nối với dữ liệu khoa học, công nghệ, việc làm, bảo hiểm, thuế. Khi dữ liệu đủ tin cậy, cơ quan quản lý có thể giảm báo cáo hành chính trùng lặp, tăng giám sát, hậu kiểm và sử dụng kết quả để cảnh báo chất lượng, giao nhiệm vụ, phân bổ nguồn lực.

Năm 2025, các cơ sở giáo dục đại học có 21.014 công bố thuộc cơ sở dữ liệu Scopus, chiếm 83,61% tổng số công bố của cả nước; trong 6 tháng đầu năm 2026, tỷ trọng này đạt 84,99%. Trong giai đoạn tới, bộ chỉ số không chỉ tính số lượng bài báo khoa học mà còn đo lường sáng chế, hoạt động chuyển giao, doanh nghiệp khởi nguồn và tác động thực tế của nghiên cứu.
Tin liên quan
Tin khác