Thời sự Đầu tư
Đổi mới mô hình phát triển: Cuộc đua với sự ủy thác của lịch sử - Bài 4: Câu hỏi từ hệ thống khuyến khích mới
Bảo Duy - 03/09/2026 07:12
Chưa lúc nào, việc trả lời bằng được câu hỏi “Vì sao nền kinh tế vẫn phụ thuộc đáng kể vào các động lực cũ?” lại cấp bách đến vậy.

Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển đang đặt Việt Nam vào một quỹ đạo phát triển mới, với những đích đến cao hơn về tăng trưởng, năng suất, công nghệ và năng lực cạnh tranh. Nhưng nhiều lợi thế đang tới hạn khiến cuộc đua biến thời cơ hôm nay thành năng lực của ngày mai trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Bài 4: Câu hỏi từ hệ thống khuyến khích mới

Chưa lúc nào, việc trả lời bằng được câu hỏi “Vì sao nền kinh tế vẫn phụ thuộc đáng kể vào các động lực cũ?” lại cấp bách đến vậy.

NHỮNG CÂU HỎI DÀI CẢ THẬP KỶ

Bức tranh tăng trưởng kinh tế đang có nhiều điểm rất tích cực trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tiếp tục bất định. Nhưng với TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), mối quan tâm hơn cả lại nằm ở vế sau của những nhận định.

Tăng trưởng kinh tế khá cao, nhưng chủ yếu vẫn dựa vào tăng đầu tư công và tín dụng ngân hàng. Tăng trưởng tín dụng năm 2025 đạt mức cao nhất trong 10 năm qua (19,1%), đưa tổng mức tín dụng ngân hàng/GDP chạm ngưỡng 146,5% GDP. Động lực tăng trưởng truyền thống chưa đồng đều trong khi động lực mới chưa phát huy nhiều. Khu vực FDI chiếm khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu và 72% kim ngạch nhập khẩu hàng hóa...

“Chúng ta đã nói về những điều này hơn một thập niên, nhưng rất tiếc là đến giờ vẫn phải nhắc đến”, ông Cung trăn trở.

Đổi mới mô hình tăng trưởng thực tế không phải là yêu cầu mới.  Năm 2013, Đề án Tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020 được ban hành, với mục tiêu đến năm 2020 cơ bản hình thành mô hình tăng trưởng theo chiều sâu.

Năm 2016, Nghị quyết 05-NQ/TW tiếp tục đặt vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cùng năm, Quốc hội ban hành Nghị quyết 24/2016/QH14 về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020. Giai đoạn 2021-2025, Nghị quyết 31/2021/QH15 tiếp tục đặt ra 27 chỉ tiêu cơ cấu lại nền kinh tế.

Nhưng đến Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, những điểm nghẽn cốt lõi tiếp tục được nhận diện: tăng trưởng còn dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp; năng suất lao động, năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp; năng lực tự chủ chiến lược còn hạn chế.

TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM)


Chúng ta đã thấy giới hạn của mô hình tăng trưởng cũ và có động lực, nỗ lực rất lớn để thay đổi…

Theo tôi, câu hỏi đầu tiên cần đặt ra phải là tại sao 13 năm đã qua, mô hình kinh tế của ta vẫn vận hành theo cách cũ!  

Vấn đề nằm ở đâu, thưa ông?

Nếu xác định thoát khỏi mô hình cũ, chọn mô hình tăng trưởng mới, có nghĩa là chọn bước vào một luật chơi mới. Luật chơi mới đòi hỏi hệ thống khuyến khích mới, hệ thống động lực mới, hệ thống phân bổ và sử dụng nguồn lực mới.

Đây là điểm rất quan trọng. Mô hình tăng trưởng mới cần những năng lực sản xuất mới, gồm công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số. Để tạo ra những năng lực ấy cần những khoản đầu tư mới, dài hạn, chấp nhận rủi ro, đồng thời phải có cơ chế để người đầu tư hưởng lợi tương xứng.

Khi hệ thống khuyến khích vẫn tạo ra địa tô, vẫn cho phép thu lợi lớn từ những khoản đầu tư ngắn hạn, ít rủi ro, thì nguồn lực sẽ vẫn chảy vào những thứ chúng ta đang nhìn thấy: đất đai, bất động sản; rất khó chảy sang sản xuất, càng khó chảy vào khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Vậy làm sao để doanh nghiệp đầu tư công nghệ; làm sao để địa phương cạnh tranh bằng chất lượng môi trường kinh doanh hay làm sao có đột phá thể chế?

Có thể nói một cách ngắn gọn, để xoay trục nền kinh tế, phải can thiệp trực tiếp vào 3 yếu tố.

Thứ nhất là cân bằng lại mặt bằng tỷ suất sinh lời giữa khu vực tài sản đầu cơ và khu vực sản xuất thực chất. Nếu một đồng vốn đổ vào đất đai lướt sóng tạo ra 30-50% lợi nhuận/năm với rủi ro thấp, không một doanh nhân duy lý nào đổ tiền vào nghiên cứu sản xuất chế tạo với biên lợi nhuận 7-10% và rủi ro thất bại cao.

Thứ hai là cắt giảm chi phí tuân thủ và rủi ro pháp lý. Doanh nghiệp có thể chấp nhận rủi ro thị trường, rủi ro công nghệ, nhưng không thể đầu tư dài hạn nếu không biết cơ chế, chính sách thay đổi thế nào, thủ tục có được giải quyết đúng hạn không, tài sản trí tuệ có được bảo vệ không...

Thứ ba là cơ chế đánh giá và bổ nhiệm cán bộ. Nếu muốn thay đổi mô hình thì phải thay đổi cách đánh giá: nhìn vào chất lượng tăng trưởng, năng suất, mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị... Bởi nếu phần thưởng vẫn dành cho những kết quả của mô hình cũ, rất khó kỳ vọng các chủ thể tự chuyển sang hành vi của mô hình mới.

Đặc biệt, không thể xây dựng lực lượng sản xuất mới bằng một hệ thống phân bổ vốn cũ.

Doanh nghiệp vẫn than phiền thiếu vốn cho đổi mới, sáng tạo, thưa ông?

Không hẳn thiếu vốn. Vấn đề là thiếu cơ chế để vốn chảy đúng nơi cần chảy.

Mô hình tín dụng thương mại truyền thống vốn sinh ra để phục vụ nền kinh tế vật chất, tài sản hữu hình. Tín dụng ngân hàng truyền thống là nợ, dựa trên tiền gửi ngắn hạn của dân cư; yêu cầu an toàn là phải bảo toàn vốn, phải có tài sản thế chấp như bất động sản, nhà xưởng. Trong khi đó, kinh tế đổi mới sáng tạo cần vốn mạo hiểm, chấp nhận tỷ lệ thất bại cao, trong khi tài sản chủ yếu là vô hình như IP, mã nguồn, thuật toán...

Khi tỷ lệ tín dụng/GDP lên tới 130-140%, rủi ro bị dồn vào bảng cân đối của hệ thống ngân hàng. Dòng vốn vì thế có xu hướng chảy vào nơi có tài sản bảo đảm và thanh khoản cao nhất, thường là bất động sản và xây dựng. Điều đó lại củng cố mô hình tăng trưởng hiện hành, còn doanh nghiệp khoa học - công nghệ nội địa dễ rơi vào tình trạng bị “bỏ đói” vốn.

Nghĩa là chúng ta đang thiếu thiết chế cho những kênh dẫn vốn vào đổi mới sáng tạo.

Ở đây phải nhắc tới vai trò của thị trường vốn chưa được phát huy. Hơn hai thập niên phát triển thị trường chứng khoán, có vẻ chúng ta quên mất vai trò, sứ mệnh chính của thị trường là huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế. Khi hệ thống khuyến khích sai lệch sẽ tác động đến hệ thống động lực và từ đó, nhiều người tìm đến thị trường chứng khoán để đầu cơ.

Thực tế, chúng ta đã có những doanh nghiệp rất máu lửa với công nghệ. Nhưng nếu hệ thống khuyến khích vẫn lệch, đất đai đem lại lợi nhuận dễ hơn, doanh nghiệp tự động biến thành công ty địa ốc.

Để tạo ra năng lực sản xuất mới của mô hình tăng trưởng mới, cần những khoản đầu tư mới, dài hạn và cơ chế để người đầu tư hưởng lợi tương xứng

CHỌN ĐIỂM KÍCH HOẠT

Mười ba năm trước, áp lực đổi mới mô hình tăng trưởng có thể chưa lớn như bây giờ. Khi đó, nếu không thay đổi thì chúng ta vẫn còn dư địa của mô hình cũ để tăng trưởng. Hiện tại, những dư địa ấy gần như không còn. Thay vào đó là áp lực phải làm khác.

Thưa ông, sẽ không dễ để một hệ thống đang vận hành theo cấu trúc lợi ích cũ chấp nhận thay đổi?

Lịch sử kinh tế, như thời điểm trước Đổi mới 1986 của Việt Nam hay các cuộc cải cách thể chế ở Đông Á cho thấy, thể chế không tự cải cách khi vẫn còn nguồn lực thặng dư để duy trì trạng thái cũ.

Nguồn lực đó của Việt Nam đã tới hạn. Trước hết đến từ việc cạn kiệt “dư địa dễ dãi”. Lợi thế nhân công giá rẻ sẽ kết thúc. Khi dân số già hóa và chi phí sinh hoạt tăng, nếu không tăng năng suất, Việt Nam sẽ mất dòng vốn sản xuất cấp thấp vào tay các quốc gia khác.

Dư địa tài khóa từ đất đai cũng chạm trần. Khi nguồn thu từ chuyển nhượng, đấu giá quyền sử dụng đất tại các địa phương cạn dần hoặc gây rủi ro nợ xấu ngân hàng, các tỉnh buộc phải tìm nguồn thu bền vững từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thực chất.

Bên cạnh đó là áp lực từ các cam kết quốc tế, tiêu chuẩn môi trường, phát thải và những thay đổi của chuỗi cung ứng toàn cầu. Doanh nghiệp không đáp ứng được các tiêu chuẩn mới sẽ bị loại khỏi cuộc chơi.

Cuối cùng là áp lực từ địa chính trị và an ninh chuỗi cung ứng. Làn sóng dịch chuyển sản xuất công nghệ cao không chờ chúng ta. Nếu thể chế trong nước chậm thích ứng, cơ hội sẽ đi sang nơi khác.

Lúc này, cần làm gì để chuyển áp lực thành hành động, thưa ông?

Trước hết, quyết tâm chính trị phải vượt lên nhóm lợi ích và phải có cơ chế bảo vệ tư duy đột phá, dám nghĩ, dám làm. Tiếp đó là loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, rõ ràng về trách nhiệm, đo lường bằng dữ liệu thay vì quy trình, chấm dứt cơ chế “xin - cho”, chuyển sang cơ chế kỷ luật dựa trên kết quả. Hệ thống pháp lý phải phân biệt rành mạch giữa sai sót do thử nghiệm chính sách vì lợi ích công cộng và hành vi cố ý trục lợi cá nhân. Nếu không có ranh giới này, áp lực thay đổi rất dễ biến thành phản xạ “nằm im phòng thủ” của công chức...

Và điều quan trọng nhất là phải thay đổi lợi ích kinh tế cụ thể. Người dân, doanh nhân và công chức phải thấy rằng, đầu tư vào sản xuất, đổi mới và làm đúng quy trình sẽ đem lại lợi ích bền vững và an toàn hơn việc đi tìm kiếm địa tô.

(Còn tiếp)

Tin liên quan
Tin khác