Bệnh án điện tử đang được triển khai với tốc độ nhanh hơn tại các cơ sở khám, chữa bệnh trên cả nước. Thống kê mới nhất của Bộ Y tế cho thấy, đến tháng 9/2026, số cơ sở y tế tham gia và triển khai Cổng thông tin Bệnh án điện tử đã đạt 1.265 đơn vị, tăng so với 1.192 bệnh viện vào đầu năm.
Đến nay, hơn 75% bệnh viện trên toàn quốc đã công bố triển khai hồ sơ bệnh án điện tử, đa số địa phương cũng xây dựng kế hoạch thực hiện. Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở khám, chữa bệnh rà soát hiện trạng, huy động và bổ sung nguồn lực để hoàn thành triển khai chậm nhất ngày 31/12/2026.
| Bệnh án điện tử đang được triển khai với tốc độ nhanh hơn tại các cơ sở khám, chữa bệnh trên cả nước. |
Mốc thời gian này đặc biệt quan trọng bởi từ ngày 1/1/2027, các bệnh viện công lập và tư nhân được yêu cầu không sử dụng hồ sơ bệnh án giấy. Điều đó đồng nghĩa ngành y tế chỉ còn hơn ba tháng để hoàn thiện một khối lượng công việc lớn, từ hạ tầng công nghệ, phần mềm, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu đến nhân lực vận hành hệ thống.
Việc chuyển đổi cũng không đơn giản là đưa thông tin từ những tập bệnh án giấy lên máy tính. Bệnh án điện tử phải trở thành nguồn dữ liệu có khả năng lưu trữ, cập nhật, khai thác và chia sẻ phục vụ trực tiếp hoạt động khám, chữa bệnh, đồng thời hỗ trợ quản trị bệnh viện.
Với người bệnh, một hệ thống dữ liệu được tổ chức tốt có thể giúp giảm thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian, hạn chế tình trạng phải thực hiện lại một số xét nghiệm do thiếu thông tin từ lần khám trước. Bác sỹ có thêm dữ liệu về tiền sử, kết quả khám, xét nghiệm và quá trình điều trị để hỗ trợ quyết định chuyên môn. Ở góc độ quản lý, dữ liệu điện tử cũng tạo điều kiện theo dõi hoạt động khám, chữa bệnh và sử dụng nguồn lực minh bạch, hiệu quả hơn.
Tốc độ triển khai nhanh, tuy nhiên, chưa đồng nghĩa quá trình chuyển đổi đã hoàn tất. Bộ Y tế thừa nhận một số địa phương và nhiều cơ sở khám, chữa bệnh triển khai hồ sơ bệnh án điện tử chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng, đồng thời chưa thể thay thế hoàn toàn hồ sơ giấy.
Thực tế nhiều bệnh viện vẫn phải duy trì đồng thời hai hệ thống. Hồ sơ được nhập trên phần mềm nhưng nhân viên y tế vẫn phải hoàn thiện thêm bệnh án giấy, khiến công nghệ chưa giúp giảm công việc mà có thời điểm còn tạo thêm một lớp thủ tục cho bác sỹ, điều dưỡng.
PGS-TS.Trần Quý Tường, Chủ tịch Hội Tin học Y tế Việt Nam nhìn nhận, việc sử dụng song song hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử làm gia tăng khối lượng công việc, lãng phí nguồn lực và tạo thêm áp lực cho nhân viên y tế. Bởi vậy, các bệnh viện cần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi để công nghệ thực sự phát huy hiệu quả thay vì chỉ hình thành thêm một hệ thống vận hành song song.
Bài toán lớn hơn sau số hóa là khả năng liên thông và khai thác dữ liệu. Nếu mỗi bệnh viện sử dụng một hệ thống riêng, dữ liệu được tổ chức theo những cách khác nhau và khó kết nối, hàng triệu hồ sơ điện tử vẫn có nguy cơ tồn tại như những "ốc đảo" thông tin.
PGS-TS.Trần Quý Tường cho rằng xây dựng hệ thống bệnh án điện tử đồng bộ trên toàn quốc đang trở thành yêu cầu cấp thiết của chuyển đổi số y tế. Khả năng lưu trữ, liên thông và khai thác dữ liệu người bệnh không chỉ hỗ trợ nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh mà việc chuẩn hóa dữ liệu trên phạm vi toàn quốc còn có thể khắc phục tình trạng phân mảnh giữa các phần mềm hiện nay.
Cùng với số hóa tại bệnh viện, một hướng phát triển khác đang được đặt ra là mở rộng các điểm tiếp cận dịch vụ y tế số tới cộng đồng, gắn với dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử. Nếu bệnh án điện tử tạo nền dữ liệu trong quá trình khám, chữa bệnh, các điểm tiếp cận này có thể hỗ trợ người dân theo dõi sức khỏe thường xuyên hơn, thực hiện một số kiểm tra cơ bản và sử dụng các dịch vụ phù hợp mà không phải tập trung toàn bộ tại bệnh viện.
Một trong những mô hình đang được triển khai theo hướng này là sự tham gia của Hệ thống nhà thuốc và Tiêm chủng Long Châu trong Trạm Công dân số.
Tại các điểm tiếp cận ở khu dân cư, mô hình hướng tới hỗ trợ người dân kiểm tra một số chỉ số sức khỏe cơ bản bằng thiết bị thông minh, tiếp cận tư vấn sức khỏe, thuốc và các tiện ích y tế. Việc ứng dụng định danh, xác thực điện tử trong một số dịch vụ, đặc biệt trong quá trình mua thuốc, cũng hướng tới kiểm soát thông tin người sử dụng và đơn thuốc chặt chẽ hơn.
Doanh nghiệp trước đó đã tích hợp một số tiện ích trên nền tảng VNeID và ứng dụng dữ liệu dân cư trong cung cấp dịch vụ. Việc những điểm cung cấp thuốc và dịch vụ chăm sóc sức khỏe tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái số cho thấy phạm vi chuyển đổi đang có xu hướng mở rộng từ bệnh viện ra các điểm tiếp xúc thường xuyên với người dân.
Hướng phát triển này càng có ý nghĩa trong bối cảnh nhu cầu quản lý các bệnh mạn tính và chăm sóc sức khỏe chủ động gia tăng. Người mắc bệnh mạn tính thường cần theo dõi chỉ số sức khỏe, sử dụng thuốc và được tư vấn trong thời gian dài, thay vì chỉ tiếp xúc với hệ thống y tế trong những lần đến bệnh viện. Nếu dữ liệu giữa các mắt xích được kết nối phù hợp và bảo đảm an toàn, người dân có thể tiếp cận một quá trình chăm sóc liên tục hơn ngay tại cộng đồng.
Tuy nhiên, mở rộng y tế số ra ngoài bệnh viện cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chuẩn hóa, bảo mật và quyền riêng tư dữ liệu. Khả năng kết nối nhiều dịch vụ chỉ thực sự có giá trị nếu thông tin được chia sẻ đúng mục đích, đúng thẩm quyền, bảo đảm an toàn và tránh tạo thêm những hệ thống dữ liệu riêng lẻ không thể liên thông.
Đây cũng là vấn đề gắn với giai đoạn tiếp theo của Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia. Giai đoạn 2026-2030, chương trình tập trung vào các nhóm mục tiêu từ giải quyết thủ tục hành chính, phát triển kinh tế số, xã hội số và công dân số đến mở rộng hạ tầng, hoàn thiện hệ sinh thái dữ liệu, bảo đảm an sinh xã hội và phục vụ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.
Trong lĩnh vực y tế, giá trị của hệ sinh thái này sẽ phụ thuộc lớn vào khả năng các nguồn dữ liệu có thể kết nối và hỗ trợ trực tiếp quá trình chăm sóc sức khỏe. Một người bệnh có thể có bệnh án tại bệnh viện, thông tin đơn thuốc, dữ liệu theo dõi sức khỏe và những lần sử dụng dịch vụ tại nhiều cơ sở khác nhau. Nếu các dữ liệu tiếp tục tồn tại tách biệt, lợi ích của số hóa sẽ bị giới hạn.
Ngược lại, một nền dữ liệu được chuẩn hóa có thể tạo cơ sở cho phân tích dữ liệu lớn, quản trị y tế dựa trên dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ hoạt động chuyên môn. PGS-TS.Trần Quý Tường cũng nhận định chuẩn hóa dữ liệu trên phạm vi toàn quốc là nền tảng cho ứng dụng AI, Big Data và quản trị y tế hiện đại.
Một bệnh viện thông minh bởi vậy không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng phần mềm hoặc trang thiết bị công nghệ. Bệnh án phải được số hóa toàn diện và liên thông dữ liệu, hoạt động quản trị có khả năng dựa trên dữ liệu thời gian thực, các quy trình đăng ký, thanh toán và tương tác được thiết kế thuận tiện hơn cho người bệnh. Trên nền tảng đó, trí tuệ nhân tạo mới có điều kiện tham gia hỗ trợ chẩn đoán, điều trị và vận hành.
Để hoàn thành mục tiêu, Bộ Y tế yêu cầu người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trực tiếp chịu trách nhiệm về triển khai bệnh án điện tử, ưu tiên nguồn lực và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm tại cơ sở khám, chữa bệnh. Sở Y tế các tỉnh, thành phố và y tế các bộ, ngành cũng phải tham mưu bố trí nguồn lực cho các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý.