Sau 15 năm thi hành, Luật An toàn thực phẩm đã bộc lộ nhiều điểm chưa còn phù hợp với thực tế. Hoạt động quản lý vẫn phân tán giữa nhiều đầu mối, cách kiểm soát chưa thực sự dựa trên mức độ nguy cơ, dữ liệu giữa các cơ quan chưa được kết nối đầy đủ, trong lúc một số quy định về kiểm nghiệm còn thiếu đồng bộ với hệ thống pháp luật liên quan.
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), gồm 9 chương, 75 điều, được xây dựng với kỳ vọng giải quyết những bất cập này bằng cách chuyển từ kiểm soát từng khâu riêng lẻ sang quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm, từng bước thống nhất đầu mối từ Trung ương đến địa phương, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số và kết nối dữ liệu.
| Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) hướng tới quản lý theo chuỗi, dựa trên nguy cơ và tăng hậu kiểm. |
Một thay đổi đáng chú ý là định hướng giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm, qua đó chuyển dần từ cách quản lý nặng về thủ tục sang giám sát dựa trên nguy cơ và mức độ tuân thủ của doanh nghiệp. Thay vì kiểm tra đồng đều tất cả sản phẩm, nguồn lực quản lý được kỳ vọng tập trung nhiều hơn vào nhóm thực phẩm, cơ sở và những mắt xích có nguy cơ cao trong chuỗi cung ứng.
Với thực phẩm phải đăng ký bản công bố, dự thảo điều chỉnh giảm phạm vi một số nhóm sản phẩm so với Nghị định 15/2018/NĐ-CP. Đối với hàng nhập khẩu, hướng tiếp cận mới là tăng hậu kiểm tại cửa khẩu thông qua lấy mẫu ngẫu nhiên theo tỷ lệ nhất định. Hàng hóa có thể được thông quan mà không phải chờ kết quả thử nghiệm, nhưng nếu mẫu không đạt yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền sẽ truy xuất nguồn gốc, áp dụng biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn sự cố và xử lý vi phạm.
Cách làm này chỉ phát huy hiệu quả nếu năng lực hậu kiểm đủ mạnh. Việc giảm kiểm tra trước không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý, mà đòi hỏi hệ thống giám sát sau lưu thông phải có dữ liệu tốt, khả năng phát hiện nhanh và đủ công cụ để truy xuất, thu hồi, xử lý sản phẩm vi phạm.
Dự thảo cũng tính tới việc công nhận rộng hơn các hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tiên tiến như Global GAP, ASEAN GAP, hữu cơ, RA, GMP, HACCP, ISO 22000, IFS, BRC hay FSSC 22000. Cơ sở trong nước đáp ứng điều kiện có thể được miễn cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm, còn cơ sở nhập khẩu có thể được áp dụng phương thức kiểm tra giảm.
Cách tiếp cận này đặt trách nhiệm bảo đảm an toàn thực phẩm nhiều hơn vào chính doanh nghiệp. Một cơ sở không chỉ cần hoàn tất hồ sơ ở thời điểm đưa sản phẩm ra thị trường mà phải duy trì hệ thống quản lý chất lượng, khả năng truy xuất và mức độ tuân thủ trong suốt quá trình hoạt động.
Tuy nhiên, giữa định hướng giảm thủ tục và những quy định cụ thể trong dự thảo vẫn xuất hiện khoảng cách khiến cộng đồng doanh nghiệp lo ngại. Bà Lý Kim Chi, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực, Thực phẩm TP.HCM cho rằng, Dự thảo vẫn còn thiên về tiền kiểm và có nguy cơ làm gia tăng điều kiện kinh doanh. Một trong những vấn đề được đặc biệt lưu ý là yêu cầu sản phẩm đã đăng ký hoặc tự công bố trước đây phải thực hiện lại thủ tục trong giai đoạn chuyển tiếp.
Nếu một lượng lớn sản phẩm đang lưu hành ổn định phải đồng loạt làm lại hồ sơ, áp lực sẽ không chỉ dồn lên doanh nghiệp mà còn có thể gây quá tải cho chính cơ quan tiếp nhận và thẩm định. Chi phí phát sinh từ việc chuẩn bị hồ sơ, thử nghiệm, nhân lực và thời gian xử lý cũng có thể trở thành gánh nặng đáng kể, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Đại diện Hội Khoa học kỹ thuật An toàn thực phẩm Việt Nam cũng đề nghị không yêu cầu sản phẩm đã đăng ký hoặc tự công bố phải làm lại thủ tục theo định kỳ. Thay vào đó, chỉ nên áp dụng đăng ký bản công bố đối với nhóm thực phẩm nguy cơ cao, duy trì cơ chế tự công bố với nhóm nguy cơ thấp và kiểm tra hàng nhập khẩu trên cơ sở phân loại rủi ro.
Còn theo một đại diện Hiệp hội Sữa Việt Nam, số lượng tài liệu trong hồ sơ có thể tăng rất mạnh so với cơ chế hiện hành. Nếu trước đây hồ sơ tự công bố chỉ cần 2 loại tài liệu, đăng ký bản công bố cần 4 loại thì theo dự thảo, số tài liệu có thể lên tới 14.
Vị này dẫn ví dụ các hộ sản xuất sữa chua tại Mộc Châu có thể không đủ khả năng xây dựng những bộ hồ sơ nghiên cứu như doanh nghiệp quy mô lớn. Nếu việc thiếu các tài liệu này đồng nghĩa với việc sản phẩm không thể đăng ký hoặc tự công bố, một quy định nhằm tăng an toàn thực phẩm có thể vô tình trở thành rào cản khiến cơ sở nhỏ khó tiếp tục hoạt động.
Từ góc nhìn này, yêu cầu quản lý đặt ra không chỉ là kiểm soát chặt hơn mà còn phải phân biệt được mức độ rủi ro và khả năng tuân thủ của từng nhóm sản phẩm, từng loại hình sản xuất. Một hộ sản xuất nhỏ không thể được đặt vào cùng khuôn hồ sơ với một tập đoàn thực phẩm lớn nếu mức độ nguy cơ và quy mô hoạt động khác nhau.
Ông Nguyễn Hồng Uy, Trưởng nhóm kỹ thuật thuộc Tiểu ban Thực phẩm và Dinh dưỡng, EuroCham cho rằng, cơ chế “công bố tiêu chuẩn sản phẩm” trong Dự thảo có nguy cơ trở thành một hình thức tiền kiểm mới.
Theo cơ chế hiện hành, doanh nghiệp tự công bố, tự chịu trách nhiệm và sản phẩm có thể được lưu hành ngay sau công bố, còn cơ quan quản lý kiểm tra trong quá trình sản phẩm có mặt trên thị trường. Với phương án được đề xuất, doanh nghiệp phải chuẩn bị hồ sơ, nộp cho cơ quan nhà nước, chờ tiếp nhận và xử lý để thông tin được đưa lên hệ thống trong thời hạn 15 ngày, sau đó sản phẩm mới đủ điều kiện lưu hành.
Theo ông Uy, nếu sản phẩm phải chờ một mã hồ sơ hoặc thông tin trên hệ thống mới được đưa ra thị trường, quyền tự công bố về bản chất có thể bị chuyển thành một thủ tục cấp phép mới. Ông đề nghị tiếp tục duy trì nguyên tắc doanh nghiệp tự công bố, tự chịu trách nhiệm và được lưu hành sản phẩm ngay sau công bố.
Cùng với đó, quy định yêu cầu doanh nghiệp đăng ký hoặc công bố lại sau mỗi 5 năm cũng được đề nghị xem xét lại vì có thể làm phát sinh chi phí mà chưa chắc tạo thêm giá trị cho quản lý. Thay vì buộc doanh nghiệp làm lại thủ tục theo chu kỳ, cơ quan quản lý có thể tập trung nguồn lực hậu kiểm vào những sản phẩm, doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro hoặc lịch sử tuân thủ không tốt.
Thương mại điện tử cũng là một điểm cần cân bằng giữa yêu cầu minh bạch và bảo vệ doanh nghiệp. Theo bà Lý Kim Chi, không nên buộc doanh nghiệp công khai toàn bộ hồ sơ kỹ thuật của sản phẩm trên nền tảng, bởi điều này có thể làm tăng nguy cơ sao chép, làm giả hoặc xâm phạm bí mật kinh doanh. Những thông tin thực sự cần thiết để người tiêu dùng nhận diện, lựa chọn sản phẩm an toàn nên được công khai, còn dữ liệu kỹ thuật chuyên sâu cần có cơ chế bảo vệ phù hợp.
Tương tự, việc xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông được đánh giá là cần thiết nhưng phạm vi thu thập thông tin cũng phải được thiết kế hợp lý. Dữ liệu càng nhiều không đồng nghĩa quản lý càng hiệu quả nếu cơ quan quản lý không xác định rõ thông tin nào thực sự phục vụ phân tích nguy cơ, truy xuất và hậu kiểm.
Với thức ăn đường phố, suất ăn tập thể và những cơ sở nhỏ lẻ được miễn giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm hoặc miễn công bố sản phẩm, các ý kiến cũng đề nghị phải quy định rõ cơ chế hậu kiểm. Đây là nhóm có số lượng lớn, hoạt động phân tán và tác động trực tiếp tới người tiêu dùng, nên việc giảm giấy phép không thể đồng nghĩa với giảm trách nhiệm giám sát.
Nhìn từ các góp ý đang được gửi tới Ban soạn thảo, điểm tranh luận lớn nhất của lần sửa luật này không nằm ở việc có cần quản lý chặt an toàn thực phẩm hay không, bởi yêu cầu này gần như không có ý kiến khác biệt. Vấn đề nằm ở cách quản lý để vừa ngăn được sản phẩm không an toàn, vừa không tạo thêm những thủ tục mà cả doanh nghiệp lẫn cơ quan nhà nước phải tốn nguồn lực thực hiện nhưng hiệu quả kiểm soát không tương xứng.