Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 14/9: Những nguy cơ ung thư phổi ít được chú ý ngoài thuốc lá
D.Ngân - 14/09/2026 08:49
Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi, nhưng không hút thuốc không đồng nghĩa hoàn toàn tránh được căn bệnh này. Khói thuốc thụ động, ô nhiễm không khí, radon, môi trường nghề nghiệp cùng nhiều yếu tố khác vẫn có thể làm gia tăng nguy cơ.

Những nguy cơ ung thư phổi ít được chú ý ngoài thuốc lá

Ung thư phổi từ lâu thường được gắn với thuốc lá, khiến không ít người cho rằng chỉ những người hút thuốc mới thuộc nhóm nguy cơ cao. Thực tế, căn bệnh này vẫn có thể xuất hiện ở những người chưa từng hút thuốc.

Năm 2022, thế giới ghi nhận khoảng 2,5 triệu ca ung thư phổi mới và 1,8 triệu trường hợp tử vong. Hút thuốc vẫn là nguyên nhân chủ yếu, liên quan tới khoảng 85% số trường hợp. Tuy nhiên, ước tính của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế cho thấy khoảng 5-20% ca ung thư phổi có thể xảy ra ở những người chưa từng hút thuốc.

Ước tính của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế cho thấy khoảng 5-20% ca ung thư phổi có thể xảy ra ở những người chưa từng hút thuốc.

PGS-TS.Phạm Cẩm Phương, Viện trưởng Viện Y học hạt nhân và Ung bướu Bạch Mai cho biết, ngoài thuốc lá, nhiều yếu tố từ môi trường sống, môi trường làm việc đến tình trạng sức khỏe và yếu tố gia đình có thể góp phần làm tăng nguy cơ ung thư phổi.

Một trong những nguy cơ dễ bị bỏ qua là khói thuốc thụ động. Người không trực tiếp hút thuốc nhưng thường xuyên hít phải khói thuốc vẫn tiếp xúc với nhiều chất độc và chất gây ung thư. Không có mức phơi nhiễm khói thuốc thụ động nào được xem là an toàn, đồng nghĩa việc bản thân không hút thuốc chưa đủ để loại bỏ nguy cơ nếu thường xuyên sống hoặc làm việc trong môi trường có khói thuốc.

Xây dựng gia đình, công sở và các không gian kín không khói thuốc bởi vậy không chỉ bảo vệ người hút mà còn giảm phơi nhiễm đối với những người xung quanh.

Ô nhiễm không khí cũng là yếu tố đáng lưu ý. Bụi mịn và các chất ô nhiễm trong không khí ngoài trời có liên quan đến nguy cơ ung thư phổi. Trong môi trường sống, con người còn có thể tiếp xúc với radon, một loại khí phóng xạ tự nhiên có khả năng tích tụ trong nhà, đặc biệt tại các không gian thông khí kém.

Nguy cơ cũng hiện diện trong một số môi trường nghề nghiệp. Amiăng, silica và khí thải diesel đã được xác định là những tác nhân có khả năng làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Người thường xuyên làm việc trong môi trường có nhiều bụi, hóa chất hoặc khí độc cần thực hiện đầy đủ các biện pháp bảo hộ lao động nhằm giảm mức độ phơi nhiễm.

Một nguồn ô nhiễm khác xuất hiện ngay trong sinh hoạt hàng ngày. Khói từ việc đốt than, củi, sinh khối hoặc dầu hỏa trong không gian kín, ít thông khí có thể khiến các chất ô nhiễm tích tụ. Cải thiện thông khí trong khu vực nấu nướng, hạn chế sử dụng nhiên liệu rắn hoặc dầu hỏa trong nhà là những biện pháp có thể góp phần giảm nguy cơ.

Đối với khói dầu phát sinh trong quá trình chiên rán, một số nghiên cứu ghi nhận mối liên quan với ung thư phổi trong những điều kiện nhất định, tuy nhiên mức độ nguy cơ phụ thuộc vào thời gian và mức độ phơi nhiễm.

Bên cạnh các tác nhân từ môi trường, một số bệnh phổi mạn tính như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và tiền sử mắc một số bệnh lý ở phổi cũng có thể liên quan đến nguy cơ ung thư phổi. Tiền sử gia đình và tính nhạy cảm di truyền cũng được xem là những yếu tố cần lưu ý. Tuy nhiên, có yếu tố nguy cơ không đồng nghĩa một người chắc chắn sẽ mắc ung thư.

Khả năng phát hiện sớm ung thư phổi gặp nhiều trở ngại do bệnh ở giai đoạn đầu có thể chưa gây triệu chứng rõ ràng hoặc biểu hiện khá nhẹ, dễ bị bỏ qua.

Bệnh tiến triển có thể xuất hiện những dấu hiệu như ho kéo dài, ho ra máu, đau ngực, khó thở, khàn tiếng, mệt mỏi, sụt cân không rõ nguyên nhân hoặc viêm phổi tái diễn.

PGS-TS.Phạm Cẩm Phương khuyến cáo, người xuất hiện triệu chứng mới, kéo dài hoặc ngày càng nặng cần đi khám thay vì tự điều trị trong thời gian dài. Những dấu hiệu như ho ra máu, khó thở tăng nhanh hoặc đau ngực dữ dội cần được đánh giá y tế sớm.

Chụp CT ngực liều thấp có thể giúp giảm tử vong do ung thư phổi nếu được thực hiện định kỳ ở nhóm nguy cơ cao phù hợp. Sàng lọc hàng năm bằng phương pháp này được khuyến cáo đối với người từ 50-80 tuổi, có tiền sử hút thuốc từ 20 bao-năm trở lên, hiện vẫn hút thuốc hoặc đã bỏ thuốc trong vòng 15 năm.

Với người chưa từng hút thuốc, việc tự chụp CT định kỳ chỉ do lo lắng hoặc có những phơi nhiễm thông thường không được khuyến cáo. Quyết định sàng lọc cần căn cứ nguy cơ của từng người và chỉ định chuyên môn, tránh lạm dụng xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh không cần thiết.

Không hút thuốc vẫn là biện pháp quan trọng hàng đầu để giảm nguy cơ ung thư phổi, nhưng phòng bệnh không dừng lại ở việc từ bỏ thuốc lá. Tránh khói thuốc thụ động, hạn chế phơi nhiễm với ô nhiễm không khí, bảo đảm thông khí trong sinh hoạt, tuân thủ bảo hộ lao động và chủ động đi khám trước những triệu chứng bất thường cũng là những mắt xích quan trọng giúp giảm nguy cơ và tăng cơ hội phát hiện bệnh sớm.

Đái tháo đường trẻ hóa, gánh nặng bệnh tật kéo dài theo tuổi đời

Đái tháo đường type 2 vốn phổ biến ở người lớn tuổi đang xuất hiện ngày càng nhiều ở người trẻ. Có bệnh viện ghi nhận số người đến khám vì đái tháo đường tăng hơn 50% trong khoảng hai năm, trong đó có những bệnh nhân chưa đến 18 tuổi.

Đái tháo đường đang cho thấy xu hướng trẻ hóa đáng lo ngại, không chỉ làm tăng số người mắc hiện tại mà còn đặt ra bài toán kiểm soát một bệnh mạn tính có thể kéo dài hàng chục năm cùng người bệnh.

Chia sẻ bên lề Hội nghị khoa học kỹ thuật năm 2026 với chủ đề “Tiến bộ mới trong quản lý toàn diện bệnh lý tim mạch - thận - chuyển hóa trên người cao tuổi”, Ths.Châu Hoàng Sinh, Trưởng Khoa Nội, Bệnh viện Lê Văn Việt cho biết, số bệnh nhân đái tháo đường đến khám tại Bệnh viện trong khoảng hai năm trở lại đây tăng hơn 50%.

Đáng chú ý, nhiều người mắc bệnh ở độ tuổi dưới 40, thậm chí bệnh viện đã ghi nhận những trường hợp dưới 20 tuổi và dưới 18 tuổi. Trước đây, đái tháo đường type 1 thường được ghi nhận ở người trẻ, còn type 2 phổ biến hơn ở người lớn tuổi. Tuy nhiên, ranh giới về độ tuổi đang thay đổi rõ rệt do đái tháo đường type 2 ngày càng xuất hiện nhiều ở nhóm tuổi trẻ hơn.

Điều đáng lo không chỉ nằm ở tuổi phát hiện bệnh. Đái tháo đường là bệnh mạn tính, đồng nghĩa một người mắc bệnh từ trẻ có thể phải sống, điều trị và kiểm soát đường huyết trong thời gian rất dài. Cùng với quá trình già hóa, số bệnh nhân cao tuổi mang theo tiền sử đái tháo đường nhiều năm cũng sẽ tiếp tục gia tăng.

Ths.Châu Hoàng Sinh cho biết, xu hướng trẻ hóa của bệnh liên quan tới nhiều yếu tố. Cơ địa, tiền sử gia đình, thói quen sinh hoạt và chế độ ăn uống đều có thể làm tăng nguy cơ, đặc biệt đối với đái tháo đường type 2.

Ở chiều ngược lại, việc người dân quan tâm hơn tới sức khỏe, cùng sự phát triển của các chương trình tầm soát và xét nghiệm, cũng giúp phát hiện thêm những trường hợp trước đây có thể chưa được chẩn đoán.

Nếu người trẻ đang đối mặt nguy cơ mắc đái tháo đường sớm hơn, người cao tuổi mắc bệnh lại có những thách thức riêng trong kiểm soát đường huyết, đặc biệt lúc xuất hiện thêm bệnh lý cấp tính.

Ở người đã mắc đái tháo đường, tình trạng nhiễm trùng, bệnh cấp tính hoặc stress nặng có thể khiến đường huyết tăng cao. ThS.BS Châu Hoàng Sinh giải thích, lúc cơ thể rơi vào trạng thái stress do bệnh cấp tính, nhiều hormone được giải phóng để giúp cơ thể thích ứng với tình trạng nguy hiểm. Tuy nhiên, những hormone này đồng thời có thể làm tăng đường huyết.

Khác với đường huyết tăng do chế độ ăn, mức đường huyết tăng liên quan đến stress có thể giảm trở lại sau khi bệnh lý cấp tính hoặc nguyên nhân gây stress được kiểm soát.

Vấn đề trở nên đáng lưu ý hơn ở người cao tuổi do khả năng kiểm soát đường huyết thường kém, đặc biệt với những người suy yếu, suy mòn hoặc cùng lúc mắc nhiều bệnh nền. Một bệnh lý cấp tính xuất hiện có thể khiến đường huyết tăng rất cao.

Bởi vậy, kiểm tra đường huyết ở người cao tuổi đang mắc bệnh nặng có ý nghĩa quan trọng. Nếu có điều kiện, người bệnh và gia đình có thể theo dõi đường huyết tại nhà. Mức đường huyết tăng cao trong bối cảnh xuất hiện bệnh cấp tính không chỉ gây thêm tác động bất lợi cho cơ thể mà còn có thể là tín hiệu cho thấy tình trạng bệnh đang trở nặng.

Với người cao tuổi có bệnh nền, nếu đường huyết tăng cao kèm các biểu hiện sức khỏe xấu đi hoặc tình trạng vượt quá khả năng chăm sóc tại nhà, gia đình cần đưa người bệnh đến cơ sở y tế sớm.

Bác sỹ khuyến cáo người mắc đái tháo đường cần tuân thủ điều trị, sử dụng thuốc đều đặn, theo dõi đường huyết và duy trì chế độ ăn phù hợp. Nếu xuất hiện bệnh cấp tính hoặc tình trạng stress, người bệnh cần được bác sỹ tư vấn sớm để đánh giá nguy cơ và có hướng xử trí phù hợp.

Xu hướng đái tháo đường xuất hiện ngày càng sớm cũng đặt ra yêu cầu chủ động phòng bệnh ngay từ những năm còn trẻ. Kiểm soát chế độ ăn, duy trì vận động, quản lý cân nặng và kiểm tra sức khỏe phù hợp với nguy cơ có ý nghĩa không chỉ trong phòng ngừa, phát hiện sớm bệnh mà còn giúp giảm số năm người bệnh phải sống chung với đái tháo đường và những biến chứng có thể tích lũy theo thời gian.

Ung thư đường tiêu hóa dễ bị bỏ sót từ những tổn thương nhỏ

Nhiều tổn thương ung thư đường tiêu hóa giai đoạn sớm chỉ có kích thước vài milimet, biểu hiện kín đáo và dễ bị nhầm với tổn thương lành tính. Trong lúc cơ hội điều trị hiệu quả cao hơn nếu bệnh được phát hiện sớm, tỷ lệ ung thư dạ dày được phát hiện ở giai đoạn này tại Việt Nam vẫn còn thấp.

Một tổn thương chỉ khoảng 10 mm, người bệnh hoàn toàn không có triệu chứng nhưng kết quả kiểm tra xác định ung thư thực quản. Một trường hợp khác có tổn thương nhỏ tại dạ dày, sinh thiết ban đầu chưa đủ để khẳng định ung thư nhưng kỹ thuật nội soi tăng cường hình ảnh sau đó giúp phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm.

Những trường hợp được Ths.Nguyễn Đức Thông, Bệnh viện Nguyễn Trãi chia sẻ tại Hội thảo khoa học “Cập nhật nội soi tiêu hóa chẩn đoán và can thiệp 2026” cho thấy thách thức lớn trong phát hiện sớm ung thư đường tiêu hóa. Tổn thương ban đầu có thể rất nhỏ, hình ảnh không điển hình và dễ bị bỏ qua nếu không được quan sát kỹ.

Trường hợp thứ nhất là nữ bệnh nhân 67 tuổi đến khám do đau vùng thượng vị kéo dài hai tháng. Nội soi dạ dày phát hiện tại hang vị một tổn thương hơi nhô, bề mặt lõm, không đều, kích thước khoảng 10 x 15 mm trên nền niêm mạc có chuyển sản ruột.

Sinh thiết ban đầu qua nội soi ánh sáng trắng chỉ ghi nhận những vùng tế bào không điển hình. Do hình ảnh tổn thương có dấu hiệu nghi ngờ, các bác sỹ tiếp tục theo dõi và nội soi kiểm tra bằng kỹ thuật tăng cường hình ảnh. Những vùng thay đổi màu sắc trên bề mặt tổn thương trở nên rõ hơn, giúp bác sỹ sinh thiết đúng vị trí nghi ngờ và xác định ung thư dạ dày giai đoạn sớm.

Một nam bệnh nhân 69 tuổi có tiền sử hút thuốc lá lại hoàn toàn không có triệu chứng. Trong lần nội soi tầm soát, bác sỹ phát hiện tổn thương khoảng 10 mm ở đoạn giữa thực quản, hơi gồ và có màu sắc khác nhẹ so với niêm mạc xung quanh.

Kỹ thuật nội soi tăng cường hình ảnh làm rõ những bất thường về mạch máu tại vùng tổn thương. Kết quả cho thấy bệnh nhân mắc ung thư thực quản ở giai đoạn rất sớm, tế bào ung thư mới khu trú trong lớp niêm mạc.

Theo Ths.Nguyễn Đức Thông, nhiều ung thư đường tiêu hóa giai đoạn sớm có thể ẩn dưới những tổn thương chỉ vài milimet đến khoảng 1 cm, hình ảnh kín đáo và dễ nhầm với tổn thương lành tính. Nội soi ánh sáng trắng vẫn giữ vai trò nền tảng, nhưng trong một số trường hợp, kết hợp các kỹ thuật tăng cường hình ảnh và nội soi phóng đại giúp nhận diện rõ hơn những thay đổi bất thường về màu sắc, bề mặt và mạch máu.

Ung thư dạ dày và ung thư đại trực tràng thuộc nhóm ung thư phổ biến tại Việt Nam. Riêng ung thư dạ dày, mỗi năm cả nước ghi nhận khoảng 15.000 trường hợp mắc mới.

Điều đáng lo ngại không chỉ nằm ở số người mắc mà còn ở thời điểm phát hiện bệnh. Các nghiên cứu được ThS.BS Nguyễn Đức Thông dẫn chứng cho thấy tỷ lệ ung thư dạ dày được phát hiện ở giai đoạn sớm tại Việt Nam trong một số nghiên cứu chỉ khoảng 4%. Những nghiên cứu gần đây ghi nhận sự cải thiện nhưng nhìn chung tỷ lệ này vẫn khoảng 10%.

Khoảng cách khá lớn nếu so với một số quốc gia châu Á. Tỷ lệ phát hiện ung thư dạ dày sớm tại Hàn Quốc khoảng 63,6%, còn Nhật Bản đã vượt 70%.

Phát hiện bệnh sớm có ý nghĩa trực tiếp đối với lựa chọn điều trị và tiên lượng của người bệnh. Nếu tổn thương còn khu trú trong lớp niêm mạc, chưa xâm lấn sâu hoặc di căn, người bệnh có cơ hội được áp dụng những phương pháp điều trị ít xâm lấn hơn thay vì phải trải qua các cuộc phẫu thuật lớn.

Một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ phát hiện ung thư tiêu hóa sớm tại Việt Nam còn thấp là chưa có chương trình tầm soát ung thư dạ dày ở quy mô quốc gia. Chất lượng nội soi, nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận các công nghệ nội soi hiện đại giữa các cơ sở y tế cũng chưa đồng đều.

Tại Nhật Bản, người dân từ 40 tuổi được khuyến khích nội soi dạ dày định kỳ. Với Việt Nam, chuyên gia cho rằng có thể xem xét cách tiếp cận tầm soát cơ hội. Người dân đến cơ sở y tế khám một vấn đề sức khỏe khác, nếu phù hợp và không có chống chỉ định, có thể kết hợp kiểm tra đường tiêu hóa.

Tuy nhiên, nguy cơ ung thư không giống nhau ở tất cả mọi người. Những trường hợp có viêm teo niêm mạc dạ dày hoặc chuyển sản ruột mức độ nặng thuộc nhóm nguy cơ cao hơn, cần được phân tầng để xây dựng kế hoạch nội soi và theo dõi phù hợp.

Không chỉ tầm soát, chất lượng của mỗi lần nội soi có vai trò quan trọng đối với khả năng phát hiện ung thư sớm. Người bệnh cần được chuẩn bị tốt để niêm mạc có thể quan sát rõ. Bác sỹ phải làm sạch niêm mạc, quan sát có hệ thống và dành đủ thời gian nhằm hạn chế bỏ sót những tổn thương nhỏ.

Các công nghệ nội soi tăng cường hình ảnh đang mở thêm khả năng nhận diện những bất thường khó phát hiện bằng phương pháp thông thường. Trí tuệ nhân tạo cũng bắt đầu trở thành công cụ hỗ trợ bác sỹ trong quá trình nội soi.

AI có khả năng phát hiện và đánh dấu vùng nghi ngờ trực tiếp trên màn hình trong thời gian thực, hướng sự chú ý của bác sỹ tới những tổn thương khó nhận biết bằng mắt thường. Công nghệ này còn có thể hỗ trợ kiểm soát chất lượng nội soi, nhắc kiểm tra đầy đủ các vị trí cần thiết nhằm giảm nguy cơ bỏ sót tổn thương.

Dù vậy, công nghệ không thay thế vai trò của bác sỹ. Khả năng nhận diện những dấu hiệu rất nhỏ của ung thư sớm, lựa chọn đúng kỹ thuật hỗ trợ và đánh giá chính xác tổn thương vẫn phụ thuộc nhiều vào chất lượng đào tạo và kinh nghiệm của người thực hiện nội soi.

Với những ung thư được phát hiện ở giai đoạn sớm và đáp ứng các tiêu chuẩn chuyên môn, người bệnh có thể được cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD), hạn chế phải thực hiện phẫu thuật lớn trong những trường hợp phù hợp.

Theo Ths.Nguyễn Đức Thông, mục tiêu không chỉ dừng ở phát hiện ung thư mà cần tìm ra bệnh từ giai đoạn rất sớm. Tầm soát phù hợp, phân tầng đúng nhóm nguy cơ, chuẩn hóa quy trình nội soi, nâng chất lượng nhân lực cùng ứng dụng công nghệ tăng cường hình ảnh và AI sẽ quyết định khả năng nhận diện những tổn thương nhỏ, qua đó mở rộng cơ hội điều trị ít xâm lấn và cải thiện tiên lượng cho người bệnh.

Tin liên quan
Tin khác