| Công nghệ sinh học đang trở thành ngành công nghiệp nền tảng của nền kinh tế tri thứ (Ảnh: P.V) |
Xu hướng toàn cầu
Theo nhiều dự báo quốc tế, quy mô nền kinh tế sinh học toàn cầu có thể đóng góp hơn 2.700 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn tới. Đây là lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới, được thúc đẩy bởi nhu cầu chăm sóc sức khỏe, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo.
Dòng vốn đầu tư toàn cầu đang phản ánh rõ xu hướng này. Chỉ trong giai đoạn 2019-2021, các quỹ đầu tư mạo hiểm đã rót khoảng 52 tỷ USD vào các doanh nghiệp công nghệ sinh học phát triển phương pháp điều trị mới. Phần lớn nguồn vốn tập trung vào các công nghệ nền tảng như liệu pháp tế bào, chỉnh sửa gene, y học chính xác và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong nghiên cứu thuốc.
Năm 2025 ghi nhận sự bùng nổ mạnh mẽ của hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) trong lĩnh vực công nghệ sinh học, với tổng giá trị các thương vụ trên toàn cầu đạt khoảng 223 tỷ USD, trở thành năm sôi động thứ ba trong lịch sử ngành này.
Làn sóng đầu tư quy mô lớn phản ánh cuộc cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa các tập đoàn dược phẩm trong việc tìm kiếm công nghệ và sản phẩm đột phá. Trong bối cảnh nhiều loại thuốc bán chạy sắp hết thời hạn bảo hộ sáng chế, các doanh nghiệp đang tích cực thâu tóm những công ty công nghệ sinh học sở hữu nền tảng nghiên cứu mới, đặc biệt ở các lĩnh vực giàu tiềm năng như điều trị béo phì, ung thư và bệnh mạn tính.
Không chỉ hoạt động M&A, sự trỗi dậy của AI cũng đang tạo thêm động lực cho làn sóng đầu tư vào công nghệ sinh học. Nhiều start-up ứng dụng AI trong nghiên cứu và phát triển thuốc đã liên tiếp đưa các ứng viên thuốc mới vào giai đoạn thử nghiệm lâm sàng, thu hút sự quan tâm của các tập đoàn dược phẩm toàn cầu.
Điển hình là Enveda, doanh nghiệp sử dụng AI để khai thác các hợp chất từ tự nhiên nhằm phát triển thuốc thế hệ mới. Công ty đã đưa ba ứng viên thuốc vào thử nghiệm lâm sàng và đang hướng tới mục tiêu huy động thêm 150 triệu USD để mở rộng hoạt động nghiên cứu, phát triển.
Những diễn biến này cho thấy, công nghệ sinh học đang bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới, trong đó sự kết hợp giữa khoa học sự sống và AI được kỳ vọng tạo ra những đột phá mang tính cách mạng trong nghiên cứu thuốc, rút ngắn thời gian phát triển sản phẩm và mở ra các phương pháp điều trị hiệu quả hơn cho nhiều căn bệnh phức tạp.
Tại Việt Nam, công nghệ sinh học cũng đang được xác định là một trong những lĩnh vực trọng tâm trong chiến lược phát triển khoa học, công nghệ quốc gia. Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đưa công nghệ sinh học trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng và thuộc nhóm dẫn đầu châu Á ở một số lĩnh vực. Đây không chỉ là mục tiêu khoa học - công nghệ, mà còn là định hướng phát triển kinh tế dài hạn của đất nước.
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức cho hay, Việt Nam đã hình thành những nền tảng quan trọng cho sự phát triển của ngành. Hệ thống các viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học - công nghệ cùng mạng lưới bệnh viện lớn đang tạo nên hệ sinh thái nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học ngày càng hoàn thiện.
TP.HCM hiện được xem là trung tâm công nghệ sinh học lớn nhất cả nước với sự hiện diện của Đại học Quốc gia TP.HCM, Trung tâm Công nghệ sinh học, Khu Công nghệ cao TP.HCM cùng hệ thống bệnh viện chuyên sâu và mạng lưới doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành chuỗi nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ sinh học mang thương hiệu Việt Nam.
Nói thêm về tiềm năng phát triển của ngành, GS. Nguyễn Thu Anh, Viện trưởng Viện Đại học Sydney Việt Nam cho rằng, trong vài năm tới, việc ứng dụng công nghệ để cá thể hóa chẩn đoán, điều trị và cung cấp dịch vụ chăm sóc thuận tiện hơn dự kiến tạo ra giá trị từ 350-410 tỷ USD mỗi năm trên toàn cầu.
Để trở thành trung tâm y tế của khu vực, TP.HCM cần đi tắt đón đầu, tập trung hợp tác với các tập đoàn dược phẩm và công nghệ lớn trên thế giới, ưu tiên phát triển công nghệ mới và nhanh chóng đưa vào ứng dụng để hoàn thiện sản phẩm, đồng thời thu hút nguồn lực cho tái đầu tư.
Cơ hội vàng và những giải pháp để bứt phá
Bên cạnh những tiềm năng lớn, môi trường đầu tư cho công nghệ sinh học tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với không ít rào cản về thể chế. Nhiều chuyên gia cho rằng, thủ tục pháp lý còn phức tạp, thời gian thẩm định và phê duyệt các dự án nghiên cứu kéo dài khiến không ít nhà đầu tư quốc tế còn dè dặt khi tìm hiểu và triển khai dự án.
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn đầu tư công nghệ ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp thường ưu tiên lựa chọn những quốc gia có môi trường pháp lý minh bạch, cơ chế thử nghiệm linh hoạt và chính sách hỗ trợ rõ ràng đối với công nghệ mới. Đây cũng là lý do nhiều nước đang xây dựng mô hình "sandbox" (thử nghiệm có kiểm soát), cho phép triển khai các công nghệ tiên phong như công nghệ sinh học, y học chính xác hay liệu pháp gene trong khuôn khổ quản lý phù hợp.
GS. Nguyễn Thu Anh nhận định, để tăng tốc xây dựng các trung tâm công nghệ sinh học lớn, cần có những cơ chế đặc thù từ cả Trung ương và địa phương nhằm tháo gỡ các nút thắt về thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa công nghệ.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chính sách cởi mở có thể tạo ra sức bật mạnh mẽ cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nhiều quốc gia từng có xuất phát điểm thấp đã vươn lên trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư y sinh nhờ cải cách thủ tục, đẩy nhanh quá trình cấp phép nghiên cứu và khuyến khích chia sẻ dữ liệu phục vụ khoa học.
Với Việt Nam, việc rút ngắn thời gian phê duyệt các thử nghiệm công nghệ mới, đầu tư hạ tầng nghiên cứu hiện đại và xây dựng cơ chế khai thác dữ liệu khoa học hiệu quả được xem là những điều kiện quan trọng để thu hút các tập đoàn công nghệ sinh học hàng đầu thế giới trong thời gian tới.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Hiền, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hệ thống y tế chuyên sâu y học tái tạo và trị liệu tế bào Mescells, Việt Nam cần một chiến lược đầu tư mạnh mẽ và đồng bộ hơn. Trước hết, cần xây dựng cơ chế đặc thù cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ sinh học, rút ngắn thời gian phê duyệt các thử nghiệm khoa học và tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo.
Một giải pháp quan trọng khác là xây dựng các trung tâm công nghệ sinh học quy mô lớn theo mô hình tích hợp, bao gồm phòng thí nghiệm hiện đại, trung tâm dữ liệu sinh học, hệ thống thử nghiệm tiền lâm sàng và không gian hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp. Đây sẽ là hạ tầng nền tảng để hình thành hệ sinh thái công nghệ sinh học đủ sức cạnh tranh trong khu vực.
PGS-TS. Trương Hải Nhung, Trưởng khoa Sinh học - Công nghệ sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM cho rằng, cần thúc đẩy mô hình liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp; hình thành các liên minh nghiên cứu và phát triển, xây dựng trung tâm liên kết nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất sinh học quy mô vùng.
Hệ thống này cần tích hợp các phòng thí nghiệm dùng chung, trung tâm dữ liệu sinh học, cơ sở thử nghiệm tiền lâm sàng và không gian hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, qua đó tạo dựng hạ tầng lõi cho hệ sinh thái công nghệ sinh học của khu vực phía Nam trong tương lai.