Y tế - Sức khỏe
Mất cân bằng giới tính khi sinh ngày càng đáng lo, Việt Nam có thể thừa 1,8 triệu nam giới
D.Ngân - 28/07/2026 10:42
Tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam vẫn ở mức 111,4 bé trai trên 100 bé gái, cao hơn nhiều so với quy luật sinh học tự nhiên.

Nếu xu hướng này không được kiểm soát, đến năm 2059 nước ta có thể thừa tới 1,8 triệu nam giới trong độ tuổi kết hôn, kéo theo hàng loạt hệ lụy về gia đình và xã hội.

Việt Nam đang đối mặt với tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở mức đáng báo động khi tỷ số giới tính khi sinh duy trì ở mức 111,4 bé trai trên 100 bé gái, vượt xa ngưỡng cân bằng sinh học tự nhiên là 104-106 bé trai trên 100 bé gái.

Theo GS-TS.Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và Các vấn đề xã hội, đây là dấu hiệu cho thấy "bức tranh dân số bị méo mó nghiêm trọng". Nếu chỉ nhìn vào quy mô toàn dân số, cơ cấu giới tính của Việt Nam hiện vẫn tương đối cân bằng với khoảng 99 nam trên 100 nữ. Tuy nhiên, khi phân tích theo từng nhóm tuổi, sự mất cân bằng đã bộc lộ rất rõ ngay từ thế hệ trẻ.

Tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam vẫn ở mức 111,4 bé trai trên 100 bé gái, cao hơn nhiều so với quy luật sinh học tự nhiên. 

Số liệu của Cục Thống kê năm 2024 cho thấy cứ 100 trẻ gái được sinh ra thì có tới 111,4 trẻ trai. Trong nhóm trẻ từ 0-14 tuổi, tỷ lệ cũng ở mức 109,7 bé trai trên 100 bé gái, phản ánh tình trạng chênh lệch giới tính đã kéo dài nhiều năm.

Đáng chú ý, một số địa phương ghi nhận mức mất cân bằng cao hơn đáng kể so với mức trung bình cả nước. Vùng đồng bằng sông Hồng có tỷ số giới tính khi sinh lên tới 113,2 bé trai trên 100 bé gái, trong khi khu vực Trung du và miền núi phía Bắc ở mức 115,3 bé trai trên 100 bé gái, thuộc nhóm cao nhất cả nước.

Các chuyên gia cảnh báo, nếu xu hướng này tiếp tục kéo dài, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những hệ lụy sâu rộng trong nhiều thập kỷ tới. Theo các dự báo, đến năm 2034, nước ta sẽ thừa khoảng 1,5 triệu nam giới trong độ tuổi kết hôn; con số này có thể tăng lên khoảng 1,8 triệu vào năm 2059 nếu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh không được kiểm soát hiệu quả.

Sự chênh lệch này không chỉ khiến nhiều nam giới gặp khó khăn trong việc tìm bạn đời mà còn có nguy cơ làm thay đổi cấu trúc gia đình, gia tăng tình trạng kết hôn muộn hoặc sống độc thân suốt đời, kéo theo nhiều vấn đề xã hội phức tạp.

Theo GS-TS.Nguyễn Đình Cử, điều đáng lo ngại nhất là sau nhiều năm triển khai các giải pháp, tỷ số giới tính khi sinh vẫn hầu như chưa được cải thiện.

Thống kê cho thấy, trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2024, tỷ số giới tính khi sinh chỉ giảm 0,7 điểm. Mức giảm rất khiêm tốn này phản ánh tốc độ cải thiện chậm, tạo ra thách thức lớn đối với mục tiêu mà Nghị quyết số 21-NQ/TW đã đề ra là đưa tỷ số giới tính khi sinh xuống dưới 109 bé trai trên 100 bé gái.

Thực tế, Việt Nam đã sớm nhận diện nguy cơ mất cân bằng giới tính khi sinh và ban hành nhiều chính sách nhằm kiểm soát tình trạng này. Tuy nhiên, theo GS-TS.Nguyễn Đình Cử, một số mục tiêu trong các chiến lược trước đây được xây dựng chưa thật sự sát với thực tiễn hoặc thiếu tính khả thi.

Đơn cử, Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2016-2025 đặt mục tiêu đưa tỷ số giới tính khi sinh về khoảng 107 bé trai trên 100 bé gái sau năm 2025. Tuy nhiên, với kết quả hiện nay, mục tiêu này vẫn còn cách khá xa thực tế.

Các chuyên gia cho rằng, nguyên nhân của mất cân bằng giới tính khi sinh không xuất phát từ yếu tố sinh học mà bắt nguồn từ những định kiến xã hội đã tồn tại qua nhiều thế hệ. Tư tưởng trọng nam hơn nữ, bất bình đẳng giới, tâm lý phải có con trai để nối dõi, cùng với việc lạm dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật để lựa chọn giới tính thai nhi là những nguyên nhân cốt lõi khiến tình trạng này kéo dài.

Bên cạnh đó, sự phát triển kinh tế - xã hội chưa đồng đều giữa các vùng miền, cùng những hạn chế của hệ thống an sinh xã hội, cũng góp phần duy trì áp lực phải sinh con trai trong nhiều gia đình.

Các chuyên gia nhận định, để đưa tỷ số giới tính khi sinh trở về mức cân bằng tự nhiên, Việt Nam cần đồng thời thay đổi nhận thức xã hội về bình đẳng giới, hoàn thiện chính sách an sinh và tăng cường thực thi nghiêm các quy định cấm lựa chọn giới tính thai nhi.

Liên quan đến giải pháp tăng mức sinh, theo Cục Dân số (Bộ Y tế), đến nay đã có 8 trong tổng số 34 tỉnh, thành phố trình HĐND ban hành các chính sách hỗ trợ đặc thù nhằm triển khai hiệu quả Chương trình bảo đảm mức sinh thay thế. Trong đó, 5 địa phương đã chính thức ban hành chính sách với mức hỗ trợ cụ thể để khuyến khích các gia đình sinh đủ hai con.

Sau 15 năm duy trì mức sinh thay thế ở mức khoảng 2,1 con/phụ nữ, Việt Nam đang đối mặt với xu hướng suy giảm mức sinh rõ rệt. Tổng tỷ suất sinh giảm xuống mức thấp kỷ lục 1,91 con/phụ nữ vào năm 2024 và chỉ nhích nhẹ lên 1,93 con trong năm 2025, thấp hơn đáng kể so với ngưỡng cần thiết để bảo đảm quy mô dân số ổn định.

Trước thực trạng này, ngày 13/5/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 291/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc, đặt mục tiêu tăng bình quân 2% tổng tỷ suất sinh; bảo đảm trên 95% cặp vợ chồng được cung cấp thông tin về kết hôn và sinh con, đồng thời 100% tỉnh, thành phố xây dựng chính sách hỗ trợ nhằm duy trì mức sinh thay thế.

Tại Hội thảo chuyên đề công tác dân số năm 2026, TS.Nguyễn Thị Thu, Phó Trưởng phòng Quy mô Dân số và Kế hoạch hóa gia đình (Cục Dân số) cho biết, các tỉnh, thành phố đang tích cực xây dựng kế hoạch, nghiên cứu cơ chế hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế nhằm hiện thực hóa mục tiêu duy trì mức sinh thay thế một cách bền vững.

Thống kê đến tháng 7/2026, đã có 25 trong tổng số 34 tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch triển khai Chương trình bảo đảm mức sinh thay thế. Trong thời gian qua, Bộ Y tế tiếp tục tiếp nhận thêm kế hoạch của một số địa phương, trong khi các tỉnh, thành phố còn lại đang hoàn thiện hồ sơ để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, ban hành theo quy định.

Qua theo dõi quá trình xây dựng kế hoạch tại các địa phương, TS.Nguyễn Thị Thu cho biết, hầu hết các tỉnh, thành phố đều căn cứ vào tình hình thực tế để xác định mục tiêu, chỉ tiêu phù hợp, bảo đảm tính khả thi trong quá trình triển khai.

Đối với mục tiêu trên 95% cặp vợ chồng và nam, nữ trong độ tuổi sinh đẻ được cung cấp thông tin về kết hôn và sinh con nhằm duy trì mức sinh thay thế, hiện đã có hai địa phương xây dựng chỉ tiêu cao hơn mục tiêu chung của cả nước.

Tuy nhiên, với mục tiêu 100% tỉnh, thành phố thực hiện chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng và cá nhân sinh con, nuôi con, vẫn còn một số địa phương chưa đưa nội dung này vào kế hoạch triển khai. Bộ Y tế đã đề nghị các địa phương tiếp tục rà soát, bổ sung để bảo đảm thực hiện đầy đủ các mục tiêu của Chương trình.

Song song với việc xây dựng kế hoạch triển khai, nhiều địa phương đã chủ động nghiên cứu, tham mưu ban hành các chính sách hỗ trợ đặc thù nhằm tạo động lực cho người dân sinh con.

Sau khi Quyết định số 291/QĐ-TTg được ban hành, đến nay đã có 8 tỉnh, thành phố trình Hội đồng nhân dân ban hành chính sách hỗ trợ đặc thù. Trong đó, 5 địa phương đã ban hành chính sách với mức hỗ trợ cụ thể, còn 3 địa phương đã thông qua nghị quyết nhưng chưa quy định mức hỗ trợ tài chính.

Đối với chính sách khen thưởng, hỗ trợ tập thể thực hiện tốt công tác duy trì mức sinh thay thế, nhiều địa phương đã đưa ra mức hỗ trợ đáng chú ý. TP.HCM dự kiến hỗ trợ từ 30 đến 60 triệu đồng; Đồng Tháp từ 30 đến 50 triệu đồng; Đồng Nai từ 20 đến 40 triệu đồng; riêng Tây Ninh có mức hỗ trợ từ 200 đến 300 triệu đồng.

Đối với chính sách hỗ trợ trực tiếp cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi, nhiều địa phương cũng đã quy định mức hỗ trợ cụ thể. TP.HCM hỗ trợ 5 triệu đồng; Hải Phòng hỗ trợ 3 triệu đồng; Tây Ninh hỗ trợ 2 triệu đồng; Đồng Nai và Đồng Tháp cùng hỗ trợ 1 triệu đồng.

Giải đáp về phạm vi áp dụng chính sách hỗ trợ tài chính đối với phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi, TS.Nguyễn Thị Thu cho biết, Luật Dân số quy định ba nhóm đối tượng được hưởng chính sách.

Nhóm thứ nhất là phụ nữ thuộc các dân tộc thiểu số rất ít người khi sinh con và được áp dụng trên phạm vi cả nước. Nhóm thứ hai là phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi, cũng được áp dụng trên toàn quốc, không phân biệt nơi cư trú. Nhóm thứ ba là phụ nữ sinh con tại các tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế.

Theo quy định của Luật Dân số, mức sinh thay thế được xác định là 2,1 con/phụ nữ. Do đó, tất cả các địa phương có tổng tỷ suất sinh thấp hơn ngưỡng này đều thuộc diện áp dụng chính sách hỗ trợ. Theo đó, mọi phụ nữ sinh con tại các địa phương có mức sinh dưới mức sinh thay thế đều đủ điều kiện hưởng chính sách hỗ trợ tài chính theo quy định.

TS.Nguyễn Thị Thu cũng cho biết, theo Quyết định số 291/QĐ-TTg, việc phân loại địa phương sẽ không còn chia thành các nhóm "mức sinh cao", "mức sinh thấp" hay "mức sinh thay thế" như trước đây. Thay vào đó, chỉ còn hai nhóm địa phương được xác định dựa trên ngưỡng 2,1 con/phụ nữ, gồm địa phương có mức sinh trên mức sinh thay thế và địa phương có mức sinh dưới mức sinh thay thế.

"Chính sách hỗ trợ phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi được áp dụng trên phạm vi toàn quốc, không phụ thuộc địa phương có mức sinh cao hay thấp", TS.Thu nhấn mạnh.

Về lộ trình thực hiện, chính sách hỗ trợ đối với phụ nữ thuộc các dân tộc thiểu số rất ít người đã được triển khai từ ngày 1/7/2026. Trong khi đó, hai nhóm đối tượng còn lại, gồm phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi và phụ nữ sinh con tại địa phương có mức sinh dưới mức sinh thay thế, sẽ chính thức được hưởng chính sách từ ngày 1/5/2027.

Tin liên quan
Tin khác