Chuyển từ tập trung chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, quản lý sức khỏe liên tục theo vòng đời đang trở thành một trong những thay đổi quan trọng của hệ thống y tế. Và cùng với bước chuyển này là hàng loạt yêu cầu mới về khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc phát hiện sớm bệnh tật, củng cố y tế cơ sở và mở rộng quyền lợi của người tham gia Bảo hiểm y tế.
| Giải pháp tài chính là một trong những định hướng đổi mới quan trọng của chính sách Bảo hiểm y tế giai đoạn 2026-2030. |
Những mục tiêu lớn được đặt ra trong Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân cũng đồng nghĩa hệ thống y tế cần một nguồn lực lớn hơn nhiều so với trước.
Trong khi đó, Việt Nam đang đồng thời đối mặt với già hóa dân số, mô hình bệnh tật thay đổi và gánh nặng bệnh không lây nhiễm ngày càng lớn. Chi tiền túi của người dân hiện vẫn chiếm khoảng 39,2% tổng chi y tế. Điều này cho thấy dù độ bao phủ Bảo hiểm y tế đã tiến gần mục tiêu toàn dân, bài toán giảm gánh nặng tài chính trực tiếp cho mỗi gia đình vẫn còn rất lớn.
Vấn đề đặt ra không chỉ là có thêm bao nhiêu người tham gia Bảo hiểm y tế mà còn là hệ thống có đủ nguồn lực để bảo đảm quyền lợi ngày càng mở rộng, duy trì chất lượng dịch vụ và từng bước đưa các chính sách chăm sóc sức khỏe dự phòng đến với người dân hay không.
Các chuyên gia y tế dự phòng khi được hỏi đều cho rằng, một hệ thống y tế chuyển mạnh sang phòng bệnh cần nguồn lực không chỉ để chi trả khi người dân vào bệnh viện. Ngân sách còn phải bảo đảm cho khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc phát hiện sớm, quản lý bệnh mạn tính, củng cố y tế cơ sở và nhiều hoạt động dự phòng khác.
Đây cũng là lý do tài chính y tế cần chuyển dần từ cách tiếp cận chủ yếu chi trả khi bệnh đã xảy ra sang đầu tư chủ động hơn cho sức khỏe. Phát hiện bệnh sớm, quản lý nguy cơ và điều trị từ giai đoạn đầu không chỉ mang lại lợi ích cho người bệnh mà về dài hạn còn có thể giảm áp lực lên bệnh viện và hạn chế những khoản chi lớn khi bệnh đã tiến triển nặng.
Tuy nhiên, nguồn lực hiện nay đang đứng trước sức ép ngày càng rõ. Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế Trần Thị Trang cho biết, nguồn Quỹ Bảo hiểm y tế có giới hạn, trong khi mức đóng đã duy trì trong nhiều năm. Cùng với yêu cầu sử dụng quỹ hiệu quả hơn, tăng minh bạch, liên thông dữ liệu và đổi mới cơ chế tài chính, vấn đề cân đối nguồn thu với quyền lợi ngày càng mở rộng cần được tính toán cho dài hạn.
Nếu mức đóng không thay đổi trong khi phạm vi quyền lợi tiếp tục được mở rộng và chi phí khám, chữa bệnh gia tăng, khả năng cân đối quỹ về lâu dài sẽ chịu áp lực. Vì vậy, ngoài sử dụng hiệu quả nguồn lực hiện có, hệ thống cần tìm thêm những nguồn tài chính mới để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng lớn.
Sức ép càng đáng lưu ý khi bệnh không lây nhiễm hiện chiếm khoảng 81% số ca tử vong, trong khi chi phí khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế đã tăng khoảng 8 lần trong vòng 14 năm. Già hóa dân số tiếp tục làm tăng nhu cầu điều trị các bệnh mạn tính, chăm sóc dài hạn và sử dụng những kỹ thuật y tế có chi phí cao.
Những con số này cho thấy độ bao phủ Bảo hiểm y tế gần toàn dân mới là một nửa của bài toán. Nửa còn lại khó hơn là bảo đảm hệ thống đủ khả năng tài chính để duy trì và từng bước nâng quyền lợi cho hàng chục triệu người tham gia.
Phân tích của Nhóm Nghiên cứu công nghệ y tế, Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London trong báo cáo về đổi mới tài chính y tế và không gian tài khóa y tế tại Việt Nam cảnh báo khoảng trống tài khóa y tế có thể tăng từ 279.000 tỷ đồng lên 510.000 tỷ đồng vào năm 2030 nếu không có những giải pháp phù hợp.
Khoảng cách này đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận. Thay vì trông chờ vào một nguồn thu duy nhất, tài chính y tế cần được xây dựng trên nhiều trụ cột, trong đó ngân sách nhà nước và Quỹ Bảo hiểm y tế tiếp tục giữ vai trò nền tảng, đồng thời khai thác những nguồn bổ sung phù hợp.
Bài toán tài chính cũng không thể tách rời cải cách hệ thống y tế. Nếu chỉ tăng nguồn thu mà chưa nâng hiệu quả sử dụng, chưa kiểm soát những khoản chi chưa hợp lý và chưa đổi mới phương thức thanh toán, áp lực tài chính vẫn có thể tiếp tục gia tăng. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là vừa "mở thêm dòng chảy" cho tài chính y tế, vừa bảo đảm mỗi đồng ngân sách và mỗi đồng đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm y tế được sử dụng hiệu quả hơn.
Một trong những dư địa được các chuyên gia đề cập là nguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt đối với những sản phẩm có hại cho sức khỏe như thuốc lá, rượu bia và đồ uống có đường. TS.Ong Thế Duệ, Trưởng khoa Tài chính y tế, Viện Chiến lược và Chính sách y tế (Bộ Y tế) cho rằng nguồn thu bổ sung từ chính sách thuế có thể được phân bổ theo hướng tăng đầu tư trở lại cho lĩnh vực y tế.
Một mô hình được đề xuất là dành khoảng 60-80% nguồn thu tăng thêm cho Quỹ Bảo hiểm y tế, phần còn lại phân bổ cho Quỹ Phòng bệnh và ngân sách chung, với lộ trình thể chế hóa trong giai đoạn 2026-2030. Nếu được thiết kế phù hợp, cơ chế này có thể tạo ra tác động kép. Thuế cao hơn góp phần hạn chế tiêu dùng những sản phẩm gây hại cho sức khỏe, trong khi một phần nguồn thu được quay trở lại đầu tư cho phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe người dân.
Tuy nhiên, nguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt không thể trở thành lời giải duy nhất. Ưu tiên hàng đầu vẫn phải là tăng phân bổ ngân sách nhà nước cho y tế. Thuế đối với thuốc lá, rượu bia và các nguồn thu khác chỉ nên đóng vai trò bổ sung.
Kinh nghiệm thực tế cũng cho thấy khu vực tư nhân có thể tham gia sâu hơn vào quá trình đa dạng hóa nguồn lực cho y tế. Bảo hiểm bổ sung, bảo hiểm thương mại, chương trình hỗ trợ thuốc và những hình thức hợp tác công - tư có thể giúp mở rộng khả năng tiếp cận một số dịch vụ.
Song ranh giới cần được xác định rõ. Những nguồn lực này là công cụ bổ sung chứ không thay thế trách nhiệm tài trợ công cho chăm sóc sức khỏe thiết yếu. Nếu phụ thuộc quá lớn vào khả năng tự chi trả hoặc các sản phẩm bảo hiểm bổ sung, khoảng cách tiếp cận dịch vụ giữa các nhóm thu nhập có nguy cơ gia tăng.
Ths.Hoàng Trung Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế) cho biết, giải pháp tài chính là một trong những định hướng đổi mới quan trọng của chính sách Bảo hiểm y tế giai đoạn 2026-2030. Các phương án được đặt ra gồm tăng chi từ ngân sách, điều chỉnh mức đóng theo lộ trình, có sự tham gia của quỹ phòng bệnh và đa dạng hóa các nguồn tài chính thông qua Bảo hiểm y tế bổ sung, bảo hiểm thương mại, chương trình hỗ trợ trực tiếp cho người bệnh tham gia Bảo hiểm y tế.
Song song với tăng nguồn thu là yêu cầu đổi mới phương thức chi trả, nâng hiệu quả quản lý và sử dụng tiết kiệm nguồn Quỹ Bảo hiểm y tế. Cải cách cơ chế tài chính dự kiến được triển khai từng bước, trong đó có định hướng tăng mức đóng Bảo hiểm y tế từ năm 2027 theo lộ trình, đồng thời thí điểm đa dạng hóa các gói Bảo hiểm y tế và phát triển Bảo hiểm y tế bổ sung phù hợp với nhu cầu của người dân.
Điều quan trọng là quá trình điều chỉnh cần được đặt trong tổng thể khả năng đóng góp của người dân, mức hỗ trợ của Nhà nước và quyền lợi được hưởng. Một chính sách Bảo hiểm y tế bền vững không thể chỉ dựa vào tăng mức đóng mà phải đồng thời kiểm soát chi phí, nâng hiệu quả sử dụng quỹ và giảm những khoản chi y tế trực tiếp mà người dân phải tự gánh chịu.
Đầu tư cho y tế cũng cần được nhìn rộng hơn một khoản chi ngân sách. Một người được phòng bệnh tốt, phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời có khả năng duy trì sức khỏe và năng lực lao động lâu hơn. Ở quy mô quốc gia, sức khỏe người dân gắn trực tiếp với năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tăng trưởng dài hạn.
Bởi vậy, mục tiêu Bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới không nên chỉ được đo bằng tỷ lệ dân số sở hữu thẻ Bảo hiểm y tế. Giá trị thực chất nằm ở khả năng người dân được tiếp cận dịch vụ cần thiết mà không phải đối mặt với gánh nặng tài chính quá lớn, đồng thời hệ thống vẫn đủ nguồn lực để duy trì chất lượng chăm sóc trong dài hạn.