Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 3/9: Dấu hiệu cảnh báo ung thư thanh quản không nên bỏ qua
D.Ngân - 03/09/2026 10:16
Khàn tiếng suốt 4 tháng nhưng uống thuốc không cải thiện, người đàn ông 50 tuổi từ Mỹ trở về Việt Nam kiểm tra và phát hiện ung thư thanh quản giai đoạn sớm.

Khàn tiếng kéo dài, dấu hiệu cảnh báo ung thư không nên bỏ qua

Suốt 4 tháng bị khàn tiếng, ông Thân, 50 tuổi, đã sử dụng thuốc nhưng tình trạng không cải thiện. Từ Mỹ trở về Việt Nam kiểm tra, người đàn ông không ngờ triệu chứng tưởng như thường gặp này lại liên quan đến một khối u ác tính ở thanh quản.

GS-TS.Trần Phan Chung Thủy, chuyên khoa tai mũi họng thực hiện nội soi hoạt nghiệm thanh quản cho người bệnh, phát hiện tổn thương dạng u sùi ở dây thanh phải lan sang mép trước dây thanh trái. Dây thanh có hình thể sùi loét, khả năng rung giảm và thanh môn đóng không kín ở mép trước.

Kết quả sinh thiết ban đầu xác định ung thư biểu mô tại chỗ. Hình ảnh MRI ghi nhận tại vùng cổ nhóm II, III có một số hạch nhỏ không đặc hiệu. Trước kết quả này, các bác sỹ chỉ định phẫu thuật nội soi laser cắt u thanh quản. Phương pháp can thiệp qua đường miệng cho phép tiếp cận trực tiếp tổn thương, hạn chế xâm lấn và hướng tới loại bỏ khối u trong khi bảo tồn tối đa chức năng thanh quản.

Các bác sỹ thực hiện phẫu thuật cho bệnh nhân.

Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ xác định người bệnh mắc ung thư biểu mô vảy sừng hóa xâm nhập độ 2, giai đoạn T1. Khối u còn ở giai đoạn sớm, chưa ghi nhận xâm lấn rộng hoặc di căn. Khi phát hiện khi bệnh còn ở giai đoạn sớm tạo điều kiện để các bác sỹ lựa chọn phương án điều trị theo hướng vừa kiểm soát ung thư, vừa bảo tồn chức năng quan trọng của thanh quản, đặc biệt là khả năng nói và nuốt.

Sau phẫu thuật nội soi laser, ông Thân hồi phục tốt và xuất viện sau 4 ngày. Khi tái khám sau một tuần, vùng phẫu thuật và vị trí mở khí quản lành tốt. Người bệnh tiếp tục được điều trị bổ trợ và theo dõi theo chỉ định chuyên khoa.

Trường hợp này cho thấy một triệu chứng tưởng như đơn giản có thể là tín hiệu đầu tiên của bệnh lý nghiêm trọng. Khàn tiếng thường xuất hiện trong nhiều tình trạng lành tính như viêm thanh quản, sử dụng giọng nói quá mức hoặc nhiễm trùng đường hô hấp. Chính vì quá phổ biến, triệu chứng này cũng dễ bị người bệnh xem nhẹ hoặc tự điều trị trong thời gian dài.

Ung thư thanh quản là một trong những ung thư thường gặp ở vùng đầu cổ và phổ biến hơn ở nam giới. Ngoài khàn tiếng, bệnh có thể biểu hiện bằng khó nuốt, nuốt đau, đau lan lên tai, ho kéo dài, khó thở, thở rít hoặc sụt cân không rõ nguyên nhân.

Vấn đề đáng lưu ý là những biểu hiện ban đầu có thể dễ bị nhầm với các bệnh lý Tai Mũi Họng thông thường. Người bệnh có thể tự mua thuốc điều trị viêm họng, viêm thanh quản hoặc chờ triệu chứng tự hết. Khoảng thời gian trì hoãn này có thể khiến cơ hội phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm bị thu hẹp.

GS.Trần Phan Chung Thủy cho biết, tiên lượng của ung thư thanh quản phụ thuộc nhiều vào giai đoạn phát hiện. Với bệnh ở giai đoạn sớm, khả năng kiểm soát bệnh và bảo tồn chức năng thanh quản thuận lợi hơn so với khi khối u đã lan rộng, xuất hiện hạch hoặc di căn xa.

Ngay cả khi đã được phẫu thuật và hoàn thành các phương pháp điều trị cần thiết, người mắc ung thư thanh quản vẫn phải tái khám định kỳ. Việc theo dõi giúp bác sỹ đánh giá quá trình hồi phục chức năng thanh quản, đồng thời phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường hoặc nguy cơ tái phát.

Các bác sỹ khuyến cáo người bị khàn tiếng kéo dài trên hai tuần, đặc biệt khi không rõ nguyên nhân hoặc điều trị thông thường không cải thiện, nên khám chuyên khoa Tai Mũi Họng. Nếu xuất hiện thêm ho dai dẳng, nuốt đau, khó nuốt, đau lan lên tai, khó thở, thở rít hoặc sụt cân, việc kiểm tra càng cần được thực hiện sớm.

Nội soi thanh quản giúp bác sỹ quan sát trực tiếp dây thanh và phát hiện những tổn thương bất thường. Khi nghi ngờ khối u, người bệnh có thể cần thực hiện thêm chẩn đoán hình ảnh, sinh thiết và các xét nghiệm cần thiết để xác định bản chất tổn thương cũng như giai đoạn bệnh.

Cảnh báo biến chứng vì phẫu thuật thẩm mỹ

Sau hai lần phẫu thuật nâng ngực, một phụ nữ 38 tuổi phải nhập viện trong tình trạng vết mổ liên tục rỉ dịch, chảy mủ nhiều tuần. Các bác sỹ nghi ngờ bệnh nhân nhiễm nhóm vi khuẩn Mycobacteria không điển hình - tác nhân hiếm gặp nhưng có thể gây nhiễm trùng dai dẳng sau các can thiệp thẩm mỹ có sử dụng vật liệu nhân tạo.

Ngày 1/9, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tiếp nhận bệnh nhân L.T.L, 38 tuổi, trú tại Thanh Hóa, bị biến chứng nhiễm trùng nghiêm trọng sau phẫu thuật thẩm mỹ nâng ngực.

Khoảng 9 tháng trước, bệnh nhân từng đặt túi ngực tại một cơ sở y tế nhưng sau đó xuất hiện nhiễm trùng, buộc phải tháo bỏ vật liệu nhân tạo để điều trị. Sau một thời gian, do vẫn có nhu cầu làm đẹp, khoảng 7 tuần gần đây chị tiếp tục phẫu thuật nâng ngực lần hai.

Tuy nhiên, chỉ sau khoảng 1-2 tuần, vùng ngực bắt đầu xuất hiện tình trạng rỉ dịch, chảy mủ kéo dài. Bệnh nhân quay lại cơ sở thẩm mỹ để tháo túi ngực, làm sạch vùng tổn thương và sử dụng kháng sinh trong khoảng 3 tuần nhưng vết thương vẫn không có dấu hiệu liền.

Khi nhập Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, các bác sỹ phát hiện dịch tiết tại vết thương có dạng nhầy gel bất thường, trong khi khoang đặt túi vẫn chưa liền dù vật liệu nhân tạo đã được tháo bỏ nhiều tuần.

Ths.Nguyễn Ngọc Linh, Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa cho biết, những biểu hiện này khiến các bác sỹ nghĩ đến khả năng bệnh nhân nhiễm NTM - Non-Tuberculous Mycobacteria, nhóm vi khuẩn Mycobacteria không điển hình.

NTM tồn tại tự nhiên trong môi trường và có thể xâm nhập vào cơ thể qua các thủ thuật ngoại khoa, đặc biệt những can thiệp có sử dụng vật liệu nhân tạo. Điểm đáng lưu ý là tình trạng nhiễm khuẩn do nhóm vi khuẩn này có thể kéo dài, khó điều trị và không đáp ứng với nhiều loại kháng sinh thường được sử dụng trong các nhiễm trùng thông thường.

Chính đặc điểm diễn biến kéo dài khiến người bệnh có thể trải qua nhiều đợt dùng thuốc hoặc xử lý vết thương nhưng tổn thương vẫn tái diễn. Nếu không xác định đúng căn nguyên vi sinh và điều trị phù hợp, quá trình phục hồi có thể kéo dài, đồng thời làm tăng nguy cơ tổn thương mô và ảnh hưởng đến kết quả thẩm mỹ.

TS.Dương Mạnh Chiến, Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Liên chuyên khoa nhấn mạnh, xử trí biến chứng nhiễm trùng sau phẫu thuật thẩm mỹ không chỉ phụ thuộc vào kỹ thuật ngoại khoa nhằm loại bỏ mô tổn thương hoặc xử lý khoang nhiễm trùng. Việc xác định chính xác tác nhân gây bệnh có vai trò quan trọng để lựa chọn hướng điều trị phù hợp.

Sau phẫu thuật, người bệnh cũng cần tuân thủ lịch tái khám và theo dõi kỹ những thay đổi tại vùng can thiệp. Các dấu hiệu như vết thương lâu liền, rỉ dịch kéo dài, sưng đỏ, đau tăng, xuất hiện ổ áp xe hoặc sốt cần được kiểm tra sớm tại cơ sở có chuyên khoa phù hợp.

Đặc biệt, người bệnh không nên tự ý sử dụng kháng sinh hoặc tiếp tục dùng thuốc kéo dài khi chưa xác định rõ nguyên nhân nhiễm trùng. Việc dùng thuốc không phù hợp có thể làm mờ triệu chứng, kéo dài thời gian phát hiện căn nguyên và khiến quá trình điều trị trở nên phức tạp hơn.

COPD và ung thư phổi có chung nhiều yếu tố nguy cơ

Ông Hùng, 72 tuổi, có nhiều bệnh nền gồm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), đái tháo đường type 2, tăng huyết áp và rối loạn mỡ máu. Khoảng 6 tháng trước, tình trạng khó thở xuất hiện nhiều hơn. Do đã sống chung với COPD trong thời gian dài, ông cho rằng bệnh cũ trở nặng nên tiếp tục sử dụng thuốc điều trị.

Tuy nhiên, kết quả chụp CT tại một cơ sở y tế địa phương phát hiện một số nốt nhỏ rải rác ở hai phổi. Người bệnh sau đó đến viện để kiểm tra chuyên sâu. Kết quả PET/CT tiếp tục ghi nhận các tổn thương, trong đó đáng chú ý là một nốt đặc tại thùy dưới phổi phải, kích thước khoảng 13x15x10 mm, tăng hấp thu FDG - dấu hiệu khiến các bác sỹ nghĩ đến khả năng tổn thương ác tính.

ThS.BS.CKII Nguyễn Lê Vinh, chuyên khoa ngoại lồng ngực cho biết, tổn thương được nghi ngờ là u phổi ở giai đoạn sớm. Các bác sỹ quyết định phẫu thuật nhằm xác định chính xác bản chất khối u, đồng thời có phương án xử trí triệt để nếu kết quả cho thấy tổn thương ác tính.

Với một bệnh nhân 72 tuổi mắc COPD cùng nhiều bệnh nền, lựa chọn phương pháp can thiệp cần tính toán kỹ nhằm vừa xử lý tổn thương, vừa hạn chế tác động đến chức năng hô hấp.

Ca phẫu thuật diễn ra thuận lợi. Kết quả giải phẫu bệnh kết hợp hóa mô miễn dịch sau đó xác định người bệnh mắc ung thư biểu mô tế bào vảy sừng hóa ở phổi. Khối u có kích thước khoảng 1,6 cm, còn giới hạn trong nhu mô phổi và chưa xâm lấn các cơ quan khác.

Sau phẫu thuật, ông Hùng được theo dõi sát chức năng hô hấp, tập phục hồi chức năng, đồng thời kiểm soát đường huyết, huyết áp và chế độ dinh dưỡng. Người bệnh hồi phục tốt, tình trạng khó thở giảm và sau đó được xuất viện.

Điểm đáng chú ý trong trường hợp này là triệu chứng khiến bệnh nhân đi kiểm tra cũng chính là biểu hiện vốn thường gặp ở COPD. Sau nhiều năm sống chung với bệnh mạn tính, việc khó thở tăng lên dễ khiến người bệnh nghĩ đến một đợt tiến triển của bệnh cũ hơn là sự xuất hiện của một bệnh lý khác.

Chính sự chồng lấp triệu chứng có thể tạo ra nguy cơ bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo. Ho, khó thở, tức ngực hoặc giảm khả năng gắng sức đều có thể xuất hiện ở người mắc COPD, nhưng cũng có thể liên quan đến những tổn thương mới tại phổi.

Vì vậy, khi tính chất hoặc mức độ triệu chứng thay đổi, đặc biệt ở người cao tuổi và có thêm các yếu tố nguy cơ, việc đánh giá lại nguyên nhân có ý nghĩa quan trọng thay vì mặc nhiên cho rằng bệnh nền đang trở nặng.

Bác sỹ Nguyễn Lê Vinh cho biết, COPD có liên quan với nguy cơ ung thư phổi. Hai bệnh có nhiều yếu tố nguy cơ chung, nổi bật là hút thuốc lá, ô nhiễm không khí và tiếp xúc kéo dài với khói bụi, hóa chất nghề nghiệp. Ở người mắc COPD, tình trạng viêm mạn tính kéo dài trong đường hô hấp cũng được xem là một trong những yếu tố có thể tạo môi trường thuận lợi cho những biến đổi liên quan đến quá trình hình thành ung thư.

Điều đáng lưu ý là ung thư phổi ở giai đoạn đầu có thể chưa tạo ra những biểu hiện rõ ràng. Khi người bệnh vốn đã ho hoặc khó thở do COPD, những thay đổi ban đầu càng dễ bị hòa lẫn vào triệu chứng quen thuộc của bệnh nền.

Các bác sỹ khuyến cáo người mắc COPD, đặc biệt người trên 50 tuổi, có tiền sử hút thuốc hoặc từng hút thuốc trong nhiều năm cần khám chuyên khoa hô hấp định kỳ và trao đổi với bác sỹ về việc tầm soát ung thư phổi phù hợp với nguy cơ cá nhân.

Người bệnh cũng không nên xem mọi biểu hiện hô hấp mới xuất hiện là diễn tiến tất yếu của COPD. Khi cơn ho thay đổi tính chất, khó thở tăng nhanh, ho ra máu, đau ngực kéo dài, sụt cân hoặc sức khỏe suy giảm không rõ nguyên nhân, cần đến cơ sở y tế để kiểm tra.

Tin liên quan
Tin khác