Chuyên gia chống độc cảnh báo hydro sulfua (H₂S) là loại khí cực độc, có thể khiến nạn nhân bất tỉnh và tử vong chỉ sau vài nhịp thở nếu hít phải trong không gian kín.
8 nạn nhân vụ ngộ độc khí qua cơn nguy kịch, bác sỹ cảnh báo "sát thủ vô hình" H₂S
Sau gần một ngày được điều trị tích cực tại Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình, sức khỏe của 8 nạn nhân trong vụ ngộ độc khí xảy ra tại một trang trại chăn nuôi lợn ở xã Thạch Quảng, tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Các bệnh nhân được chuyển đến bệnh viện từ tối 18/7 đến trưa 19/7 sau vụ tai nạn đặc biệt nghiêm trọng khiến tổng cộng 13 người gặp nạn. Trong đó, 5 người tử vong ngay tại hiện trường do ngộ độc khí hydro sulfua (H₂S), gồm một công nhân rơi xuống bể chứa chất thải và 4 người lần lượt lao xuống ứng cứu.
| Bệnh nhân ngộ độc khí đang điều trị tại cơ sở y tế. |
Theo Bệnh viện Bạch Mai, 8 bệnh nhân còn lại đều là nam giới, từ 32 đến 46 tuổi, là nhân viên của công ty chăn nuôi lợn. TS.Nguyễn Trung Nguyên, Giám đốc Trung tâm Chống độc cho biết, nơi xảy ra tai nạn là bể chứa nước phân có kết cấu kín, kích thước khoảng 2 x 2 x 3 m, miệng bể chỉ rộng hơn một mét.
Ban đầu, một công nhân không may rơi xuống bể và nhanh chóng bất tỉnh. Những người còn lại lần lượt xuống cứu hoặc cúi sâu xuống miệng bể để kéo nạn nhân lên nhưng đều không được trang bị phương tiện bảo hộ. Chỉ sau ít phút tiếp xúc với khí độc, nhiều người cũng lần lượt mất ý thức.
Trong số 8 người đang điều trị, hai bệnh nhân trực tiếp xuống bể ở lượt cứu hộ cuối cùng có đeo dây an toàn. Tuy nhiên, vừa xuống đến nơi, cả hai nhanh chóng xuất hiện cảm giác khó chịu rồi mất ý thức. Rất may, họ được kéo lên kịp thời và hồi tỉnh sau vài phút. Sáu bệnh nhân còn lại tham gia hỗ trợ cứu hộ từ phía trên miệng bể.
Khi nhập viện, các bệnh nhân đều tỉnh táo nhưng xuất hiện đau đầu, kích ứng mắt, xung huyết kết mạc; một số trường hợp bị nhiễm toan chuyển hóa lactic và tiêu cơ vân. Hiện tất cả tiếp tục được theo dõi sát và điều trị tích cực.
Các bác sỹ cho biết điểm nguy hiểm nhất của khí H₂S là khả năng gây ngộ độc cực nhanh. Loại khí này có cơ chế gây độc tương tự xianua khi ức chế hô hấp tế bào, khiến não, tim và nhiều cơ quan quan trọng rơi vào tình trạng thiếu oxy chỉ trong thời gian rất ngắn.
Ở nồng độ thấp, H₂S có mùi trứng thối đặc trưng. Tuy nhiên, khi nồng độ tăng cao, khí độc lại làm tê liệt dây thần kinh khứu giác, khiến nạn nhân không còn ngửi thấy mùi dù đang ở trong môi trường cực kỳ nguy hiểm.
TS.Nguyễn Trung Nguyên cho biết trong y văn, ngộ độc H₂S nồng độ cao trong không gian kín còn được gọi là hội chứng "búa tạ ở lò mổ". Người hít phải khí độc có thể gục ngã gần như ngay lập tức, nhanh chóng ngừng hô hấp, ngừng tuần hoàn và tử vong nếu không được đưa ra khỏi vùng nguy hiểm kịp thời.
Ông cũng lưu ý nhiều người vẫn nhầm tưởng các vụ ngạt trong hầm biogas, giếng nước hay bể chứa chất thải là do khí metan (CH₄). Thực tế, trong nhiều trường hợp, chính khí hydro sulfua mới là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong.
H₂S thường sinh ra trong quá trình phân hủy các chất hữu cơ tại những không gian kín như hầm biogas, bể chứa phân, cống ngầm, giếng sâu, bể rác hoặc khoang chứa hải sản trên tàu cá. Mỗi năm vẫn ghi nhận nhiều vụ tai nạn thương tâm khi người lao động chủ quan xuống các khu vực này hoặc lao vào cứu người mà không có thiết bị bảo hộ và phương tiện cứu hộ chuyên dụng.
Ngay sau khi tiếp nhận thông tin về vụ việc, PGS-TS.Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, đã chỉ đạo kích hoạt báo động đỏ tại cơ sở Ninh Bình. Các chuyên khoa chống độc, hồi sức cấp cứu, truyền nhiễm, chẩn đoán hình ảnh và chấn thương được huy động để hội chẩn khẩn cấp, đánh giá toàn diện tình trạng ngộ độc, đồng thời tầm soát chấn thương do ngã và nguy cơ nhiễm trùng cho các nạn nhân.
Đến nay, tình trạng của cả 8 bệnh nhân đã cải thiện so với thời điểm nhập viện. Tuy nhiên, các bác sỹ vẫn tiếp tục theo dõi sát để phát hiện sớm những tổn thương muộn có thể xảy ra sau ngộ độc khí độc.
Vụ tai nạn một lần nữa là lời cảnh báo về nguy cơ tử vong từ khí H₂S trong các không gian kín. Các chuyên gia khuyến cáo tuyệt đối không tự ý xuống hầm biogas, bể chứa chất thải, giếng sâu hoặc các khu vực nghi có khí độc khi chưa được kiểm tra nồng độ khí và trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ.
Khi phát hiện người gặp nạn, không nên lao xuống cứu theo bản năng vì rất dễ trở thành nạn nhân tiếp theo; cần nhanh chóng gọi lực lượng cứu hộ chuyên nghiệp và sử dụng các thiết bị bảo vệ hô hấp phù hợp trước khi tiếp cận hiện trường.
Bỏ điều trị 3 năm, khối u tuyến giáp to gấp 3 lần gây biến dạng cổ
Được chẩn đoán u tuyến giáp từ 3 năm trước nhưng vì lo sợ phẫu thuật nên không điều trị, người đàn ông 46 tuổi để khối u phát triển lớn gấp ba lần, gây lồi cổ, nuốt vướng và ảnh hưởng rõ rệt đến sinh hoạt. Nhờ can thiệp bằng đốt sóng cao tần (RFA), khối u giảm hơn 97% kích thước sau 6 tháng mà vẫn bảo tồn được tuyến giáp.
Anh Yên (46 tuổi, TP.HCM) từng được phát hiện có khối u tuyến giáp cách đây ba năm trong một lần khám sức khỏe. Do lo ngại phải mổ mở, sợ đau và sợ ảnh hưởng đến giọng nói cũng như chức năng tuyến giáp, anh quyết định trì hoãn điều trị.
Theo thời gian, khối u ngày càng phát triển. Vùng cổ bắt đầu lồi rõ, người bệnh thường xuyên có cảm giác nuốt vướng, khó chịu khi ăn uống và mất tự tin vì biến dạng vùng cổ. Chỉ đến khi các triệu chứng ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống, anh mới đến viện thăm khám.
Bác sỹ Nguyễn Đăng An, Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh và Điện quang can thiệp cho biết, kết quả siêu âm ghi nhận khối u tuyến giáp thùy trái đã lan sang eo tuyến giáp, gây lồi cổ rõ rệt. Khối u có kích thước dày 2 cm, ngang 3,2 cm, dài gần 4 cm, thể tích gần 12 ml, tương đương kích thước một quả chanh và lớn gấp khoảng ba lần so với thời điểm được phát hiện cách đây ba năm.
Theo bác sỹ An, nếu lựa chọn phẫu thuật mở trong trường hợp này, người bệnh có thể phải cắt một phần hoặc toàn bộ tuyến giáp. Phương pháp này không chỉ cần gây mê toàn thân mà còn tiềm ẩn nguy cơ chảy máu, nhiễm trùng, để lại sẹo vùng cổ và có thể ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp, tuyến cận giáp hoặc dây thần kinh thanh quản.
Sau khi hội chẩn đa chuyên khoa, các bác sỹ quyết định điều trị bằng kỹ thuật đốt sóng cao tần (Radiofrequency Ablation - RFA). Đây là phương pháp can thiệp ít xâm lấn đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới đối với các khối u tuyến giáp lành tính, giúp tiêu hủy khối u nhưng vẫn bảo tồn tối đa nhu mô tuyến giáp khỏe mạnh.
Trong quá trình thực hiện, người bệnh chỉ được gây tê tại chỗ và hoàn toàn tỉnh táo. Dưới hướng dẫn của siêu âm, bác sỹ áp dụng kỹ thuật tách nước để tạo khoảng cách an toàn giữa khối u với các cấu trúc quan trọng như khí quản, thực quản và dây thần kinh thanh quản quặt ngược, sau đó đưa kim đốt chuyên dụng vào khối u và tiến hành đốt theo từng vùng nhỏ cho đến khi toàn bộ khối u được xử lý.
Toàn bộ thủ thuật diễn ra trong chưa đầy 30 phút. Kiểm tra ngay sau can thiệp cho thấy khối u đã được phá hủy hoàn toàn, không còn tín hiệu mạch máu nuôi. Người bệnh gần như không đau, có thể trò chuyện với bác sỹ trong suốt quá trình thực hiện và xuất viện chỉ sau khoảng một giờ theo dõi.
Kết quả tái khám sau một tháng cho thấy thể tích khối u giảm còn khoảng 4 ml. Sau 6 tháng, khối u tiếp tục teo nhỏ còn khoảng 0,35 ml, tương đương giảm hơn 97% kích thước ban đầu. Vùng cổ trở lại gần như bình thường, người bệnh không còn cảm giác nuốt nghẹn hay lồi cổ.
Theo bác sỹ Nguyễn Đăng An, khác với phẫu thuật mở truyền thống, RFA chỉ tạo một đường chọc kim rất nhỏ trên da nên hầu như không để lại sẹo, đồng thời bảo tồn tối đa chức năng của tuyến giáp.
"Đốt sóng cao tần giúp tiêu hủy chính xác tổn thương nhưng vẫn giữ lại phần nhu mô tuyến giáp lành xung quanh, nhờ đó hạn chế nguy cơ suy giáp, suy cận giáp và giảm khả năng phải sử dụng hormone thay thế lâu dài. Đây là lựa chọn điều trị phù hợp cho những bệnh nhân có u tuyến giáp lành tính, đặc biệt là người không muốn hoặc không thể phẫu thuật", bác sỹ An cho biết.
Các chuyên gia cũng cho biết, hiện nay u tuyến giáp được phát hiện ngày càng nhiều nhờ khám sức khỏe định kỳ và siêu âm vùng cổ. Phần lớn các trường hợp là u lành tính, không nguy hiểm đến tính mạng. Tuy nhiên, nếu không được theo dõi và điều trị đúng thời điểm, khối u có thể tiếp tục phát triển, gây mất thẩm mỹ, chèn ép khí quản, thực quản, khiến người bệnh nuốt vướng, khó thở hoặc ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
Bác sỹ khuyến cáo người dân nên khám sức khỏe định kỳ, đặc biệt khi phát hiện khối bất thường vùng cổ hoặc có các triệu chứng như nuốt vướng, khàn tiếng kéo dài, cảm giác nghẹn khi ăn uống. Việc thăm khám sớm giúp đánh giá chính xác bản chất khối u và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.
Với sự phát triển của các kỹ thuật can thiệp ít xâm lấn như RFA, nhiều người bệnh u tuyến giáp lành tính hiện có thể điều trị hiệu quả mà không cần phẫu thuật, hồi phục nhanh, bảo tồn chức năng tuyến giáp và đảm bảo tính thẩm mỹ.
Chăm hai con mắc Adenovirus, người bố sốt 41 độ C, bội nhiễm phải nhập viện
Tưởng chỉ là cảm cúm thông thường sau khi chăm sóc hai con nhỏ mắc Adenovirus, người đàn ông 39 tuổi bất ngờ sốt cao tới 41 độ C, viêm kết mạc, viêm amidan mủ và viêm phế quản do bội nhiễm vi khuẩn. Các bác sỹ cảnh báo Adenovirus không chỉ gây bệnh ở trẻ em mà người lớn cũng có thể diễn tiến nặng nếu tiếp xúc gần với nguồn lây.
Sau một tuần chăm sóc hai con nhỏ mắc Adenovirus tại nhà, anh Tiến (39 tuổi) bắt đầu xuất hiện các triệu chứng sốt cao, đau họng và mệt mỏi. Ban đầu, anh nghĩ mình chỉ bị cảm cúm thông thường nên tự uống thuốc hạ sốt và nghỉ ngơi. Tuy nhiên, tình trạng bệnh ngày càng nặng, sốt liên tục tới 41 độ C, đau họng dữ dội, mắt đỏ, ho nhiều đờm đặc khiến anh phải nhập viện điều trị.
Anh Tiến vốn khỏe mạnh, không mắc bệnh nền. Trước đó, hai con nhỏ của anh lần lượt sốt, ho và đau nhức mắt, được chẩn đoán nhiễm Adenovirus và điều trị ngoại trú. Trong suốt quá trình chăm sóc con, anh thường xuyên tiếp xúc gần, nhưng không nghĩ bản thân cũng có nguy cơ mắc bệnh.
Khi khởi phát triệu chứng, người bệnh sốt cao kèm rét run, đau đầu, đau họng dữ dội đến mức gần như không thể ăn uống. Những ngày tiếp theo, các cơn sốt xuất hiện dày hơn, khoảng bốn lần mỗi ngày và đáp ứng rất kém với thuốc hạ sốt. Anh còn bị đau nhức mắt, viêm kết mạc, nhiều dử mắt, đau mỏi toàn thân, ho nhiều, khạc đờm vàng xanh đặc quánh, mệt lả và ăn uống kém.
Nghi ngờ mắc cùng bệnh với các con, anh tự thực hiện test nhanh Adenovirus tại nhà và cho kết quả dương tính. Dù đã tự bù nước, điện giải, uống thuốc hạ sốt và sử dụng kháng sinh trong hai ngày nhưng tình trạng không cải thiện.
Khi đến viện, người bệnh trong tình trạng sốt cao, rét run từng cơn, mạch nhanh 120 lần/phút. Hai mắt đỏ nhiều, đau nhức, tiết nhiều dử mắt; hai amidan sưng to, phủ nhiều ổ mủ.
Các xét nghiệm ghi nhận bạch cầu tăng lên 14 G/L, cao hơn ngưỡng bình thường; chỉ số viêm CRP tăng tới 14,6 mg/dL, gấp nhiều lần giới hạn bình thường, cho thấy cơ thể đang có phản ứng viêm mạnh. Nội soi tai mũi họng phát hiện viêm amidan mủ hai bên, trong khi phim X-quang cho thấy người bệnh đã bị viêm phế quản.
BSNT Đàm Thị Thanh Tâm, chuyên khoa Nội Tổng hợp sau khi thăm khám đã chẩn đoán anh Tiến mắc Adenovirus kèm viêm amidan cấp mủ và viêm phế quản do bội nhiễm vi khuẩn.
Theo bác sỹ Tâm, Adenovirus thường được biết đến là tác nhân gây bệnh ở trẻ nhỏ, dễ tạo thành các ổ dịch tại trường học, nhà trẻ hoặc những nơi tập trung đông trẻ em. Tuy nhiên, người trưởng thành vẫn có thể mắc bệnh khi tiếp xúc gần với nguồn lây, đặc biệt là cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ bệnh.
Đa số người lớn khỏe mạnh khi nhiễm Adenovirus chỉ có biểu hiện giống cảm lạnh như sốt, đau họng, ho hoặc viêm kết mạc và sẽ tự hồi phục sau vài ngày. Tuy nhiên, virus có thể làm tổn thương niêm mạc đường hô hấp, tạo điều kiện để vi khuẩn xâm nhập, gây bội nhiễm như viêm amidan mủ, viêm phế quản hoặc viêm phổi. Khi đó, người bệnh không chỉ cần điều trị triệu chứng mà còn phải điều trị các biến chứng do vi khuẩn gây ra.
Do sốt cao kéo dài khiến cơ thể mất nhiều nước và điện giải, anh Tiến được truyền dịch, bù điện giải kết hợp sử dụng thuốc hạ sốt, giảm đau, chống viêm, thuốc long đờm, giảm ho và kháng sinh đường tĩnh mạch để kiểm soát tình trạng bội nhiễm. Người bệnh cũng được điều trị viêm kết mạc bằng kháng sinh nhỏ mắt.
Sau bốn ngày điều trị tích cực, tình trạng sốt giảm, đau họng và ho cải thiện rõ rệt, các ổ mủ ở amidan dần sạch, người bệnh ăn uống tốt hơn. Sau hai ngày theo dõi tiếp theo, anh hết sốt hoàn toàn, các dấu hiệu sinh tồn ổn định, mắt chỉ còn sung huyết nhẹ, họng giảm sưng đáng kể và được xuất viện, tiếp tục điều trị ngoại trú.
Theo BSNT Đàm Thị Thanh Tâm, hiện chưa có thuốc đặc hiệu điều trị Adenovirus. Việc điều trị chủ yếu nhằm kiểm soát triệu chứng như hạ sốt, giảm đau, bù nước và điện giải, đồng thời phát hiện sớm, xử trí kịp thời các biến chứng. Kháng sinh không có tác dụng với virus nên chỉ được sử dụng khi có bằng chứng bội nhiễm vi khuẩn.
Adenovirus thuộc họ Adenoviridae với hơn 50 type có thể gây bệnh ở người, không chỉ ảnh hưởng đường hô hấp mà còn có thể gây viêm kết mạc, viêm đường tiêu hóa, viêm bàng quang, tổn thương da và thậm chí ảnh hưởng hệ thần kinh. Người đã từng mắc bệnh vẫn có thể tái nhiễm do nhiễm các type virus khác nhau.
Virus lây truyền chủ yếu qua giọt bắn đường hô hấp khi người bệnh ho, hắt hơi, nói chuyện hoặc qua tiếp xúc với dịch tiết như nước mũi, đờm, nước mắt, dử mắt và các bề mặt nhiễm virus. Vì vậy, khi trong gia đình có người mắc bệnh, nguy cơ lây lan cho các thành viên khác rất cao nếu không thực hiện nghiêm các biện pháp phòng ngừa. Thời gian gần đây, Hà Nội cũng ghi nhận nhiều ổ dịch nhỏ tại trường học và một số bể bơi có nguồn nước ô nhiễm.
Các bác sỹ khuyến cáo người chăm sóc bệnh nhân Adenovirus cần đeo khẩu trang, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn, hạn chế dùng chung khăn mặt, cốc uống nước và các vật dụng cá nhân, đồng thời vệ sinh, khử khuẩn bề mặt tiếp xúc thường xuyên và giữ không gian sống thông thoáng.
Đặc biệt, không nên chủ quan khi xuất hiện các dấu hiệu như sốt cao trên 39 độ C kéo dài, sốt không đáp ứng thuốc hạ sốt, đau họng dữ dội, nuốt khó, ho nhiều đờm đặc, khó thở, đau ngực hoặc mệt lả. Đây có thể là dấu hiệu bệnh đã diễn tiến nặng hoặc xuất hiện bội nhiễm, cần đến cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị kịp thời.
Hiện chưa có vắc-xin phòng Adenovirus được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng. Vì vậy, vệ sinh cá nhân, hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh, chủ động cách ly khi có triệu chứng và phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường vẫn là những biện pháp hiệu quả nhất để hạn chế lây lan và phòng ngừa biến chứng.