Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 4/9: Dùng thuốc kháng đông, cẩn trọng khi uống thêm thực phẩm bổ sung
D.Ngân - 04/09/2026 10:13
Đang điều trị thuốc kháng đông dài hạn, người phụ nữ 63 tuổi tự sử dụng thêm thực phẩm bổ sung và không kiểm tra chỉ số đông máu định kỳ. Khi xuất hiện tiểu máu, bầm tím bất thường, kết quả xét nghiệm cho thấy chỉ số INR tăng tới 10,6, đặt người bệnh trước nguy cơ xuất huyết nghiêm trọng.

Dùng thuốc kháng đông, cẩn trọng khi uống thêm thực phẩm bổ sung

Bà Đông, 63 tuổi, mắc hội chứng kháng phospholipid - một bệnh tự miễn làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối trong động mạch và tĩnh mạch. Người bệnh từng hai lần bị thuyên tắc phổi cấp tính nên được bác sỹ chỉ định sử dụng lâu dài thuốc kháng đông nhóm kháng vitamin K nhằm phòng huyết khối tái phát.

Với loại thuốc này, người bệnh cần tái khám và xét nghiệm chỉ số INR định kỳ để bác sỹ đánh giá mức độ chống đông, từ đó điều chỉnh liều thuốc phù hợp. Tuy nhiên, thay vì tái khám, bà Đông tiếp tục sử dụng đơn thuốc cũ, đồng thời tự uống thêm thực phẩm bổ sung.

Người bệnh không nên chỉ sử dụng một đơn thuốc cũ trong thời gian dài mà bỏ qua lịch tái khám bởi liều phù hợp tại một thời điểm chưa chắc tiếp tục phù hợp khi tình trạng sức khỏe, thuốc sử dụng đồng thời hoặc các yếu tố khác thay đổi.

Khoảng hai tuần sau, người bệnh bắt đầu xuất hiện tiểu máu. Ban đầu, bà được chẩn đoán nhiễm trùng đường tiểu và điều trị bằng kháng sinh. Sau đó, tình trạng tiểu máu không giảm mà ngày càng nặng hơn, trên cẳng chân đồng thời xuất hiện nhiều vết bầm không rõ nguyên nhân.

Khi đến viện, bác sỹ Đỗ Vũ Ngọc Anh, chuyên khoa tim mạch chỉ định xét nghiệm đông máu. Kết quả cho thấy chỉ số INR của bệnh nhân lên tới 10,6.

INR là một trong những chỉ số quan trọng được sử dụng để theo dõi tác dụng chống đông ở người điều trị bằng thuốc kháng vitamin K. Mục tiêu INR cụ thể phụ thuộc vào tình trạng bệnh và chỉ định của từng người, nhưng trong nhiều trường hợp sử dụng thuốc chống đông, khoảng điều trị thường ở mức 2-3. Khi chỉ số tăng quá cao, nguy cơ xuất huyết cũng tăng theo.

"INR 10,6 cho thấy máu bệnh nhân loãng ở mức nguy hiểm, nguy cơ chảy máu ồ ạt bất cứ lúc nào", bác sỹ Ngọc Anh cho biết. Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, người bệnh có thể đối mặt với những biến chứng xuất huyết nghiêm trọng.

Các bác sỹ tạm ngưng thuốc chống đông và thực phẩm bổ sung người bệnh đang sử dụng, đồng thời truyền hai đơn vị huyết tương tươi đông lạnh để xử trí tình trạng rối loạn đông máu.

Sau ba ngày điều trị, tình trạng tiểu máu chấm dứt, các vết bầm dưới da giảm dần và INR trở về mức 2,48. Bác sỹ sau đó tính toán lại liều thuốc kháng đông phù hợp trước khi cho người bệnh xuất viện.

Ca bệnh đặt ra một vấn đề đáng lưu ý đối với những người phải sử dụng thuốc kháng đông dài hạn. Thuốc không tồn tại độc lập với những sản phẩm khác được đưa vào cơ thể. Một loại thuốc mới, kháng sinh, thuốc không kê đơn, vitamin, thảo dược hay thực phẩm bổ sung đều có khả năng ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị trong những trường hợp nhất định.

ThS.BS.CKII Huỳnh Thanh Kiều, chuyên khoa tim mạch cho biết, người đang điều trị bệnh tim mạch không nên tự ý sử dụng thêm thuốc, thảo dược hoặc những sản phẩm không rõ thành phần, nguồn gốc. Một số sản phẩm có thể tương tác với thuốc điều trị, làm thay đổi tác dụng hoặc gia tăng nguy cơ gặp tác dụng không mong muốn.

Đặc biệt, một số thành phần có thể ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu hoặc quá trình đông máu. Khi sử dụng đồng thời với thuốc chống đông hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu, nguy cơ chảy máu có thể tăng lên.

Điều đáng lưu ý là người bệnh thường có xu hướng xem vitamin, thảo dược hay thực phẩm bổ sung là những sản phẩm tương đối an toàn nên không nghĩ cần thông báo với bác sỹ. Trong khi đó, với người đang sử dụng các thuốc có khoảng điều trị cần được kiểm soát chặt chẽ như thuốc kháng vitamin K, những thay đổi về thuốc sử dụng đồng thời, chế độ ăn hoặc tình trạng sức khỏe đều có thể ảnh hưởng đến mức độ chống đông.

Trong trường hợp của bà Đông, việc tự sử dụng thêm thực phẩm bổ sung diễn ra trong bối cảnh người bệnh không tái khám để theo dõi INR định kỳ và sau đó còn được điều trị bằng kháng sinh. Vì vậy, thay vì chỉ nhìn vào một sản phẩm riêng lẻ, các bác sỹ nhấn mạnh yêu cầu quản lý toàn bộ những thuốc và sản phẩm người bệnh đang sử dụng.

Thuốc kháng đông giúp phòng ngừa huyết khối nhưng đồng thời cũng làm tăng nguy cơ chảy máu. Bài toán điều trị vì thế là duy trì tác dụng chống đông ở mức đủ để phòng huyết khối nhưng không quá mức khiến người bệnh đối mặt với xuất huyết.

Người bệnh cũng cần nhận biết những tín hiệu cảnh báo xuất huyết. Đặc biệt, khi đã xuất hiện bất thường, người bệnh không nên tự ý ngừng, giảm hoặc tăng liều thuốc chống đông. Việc điều chỉnh không đúng có thể đưa người bệnh từ nguy cơ xuất huyết sang nguy cơ hình thành huyết khối, trong khi những người từng thuyên tắc phổi như trường hợp bà Đông vốn cần được bảo vệ lâu dài trước nguy cơ tái phát.

Dấu hiệu cảnh báo mắc hội chứng Ramsay Hunt

Hai tuần trước lúc đến bệnh viện, ông Đ.Q.T, 53 tuổi, ở Hưng Yên bắt đầu đau vùng gáy lan lên đỉnh đầu và thái dương trái, kèm cảm giác rát quanh tai và góc hàm. Chụp MRI sọ não tại một cơ sở y tế địa phương chưa phát hiện bất thường, người bệnh được chẩn đoán đau nửa đầu và viêm quanh răng nên tiếp tục điều trị bằng thuốc.

Tình trạng đau không giảm, vài ngày sau vành tai trái bắt đầu xuất hiện mụn nước và chảy dịch. Người bệnh vẫn dùng thuốc từ đơn cũ mà chưa đi khám lại, cho đến lúc các biểu hiện tiếp tục tiến triển và phải đến Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC kiểm tra.

ThS. Bùi Thị Thanh, chuyên khoa Thần kinh ghi nhận vành tai trái của bệnh nhân viêm, tấy, nề đỏ, đồng thời xuất hiện liệt dây thần kinh VII ngoại biên cùng bên khiến mắt trái khó nhắm kín. Chuỗi biểu hiện từ đau, rát quanh tai, nổi mụn nước rồi xuất hiện liệt mặt gợi ý hội chứng Ramsay Hunt.

Bệnh sử cũng cho thấy ông T. mắc đái tháo đường type 2, rối loạn chuyển hóa lipid và tăng men gan, nhưng đã tự ngừng thuốc điều trị đái tháo đường khoảng hai tháng. Bệnh nhân được thăm khám chuyên khoa Thần kinh, Tai Mũi Họng, Mắt và thực hiện các xét nghiệm cần thiết.

Kết quả xét nghiệm VZV-IgM âm tính, VZV-IgG tăng cao. Sau khi tổng hợp diễn biến bệnh, triệu chứng lâm sàng và kết quả thăm khám, các bác sỹ xác định bệnh nhân mắc hội chứng Ramsay Hunt, kèm đái tháo đường type 2, rối loạn chuyển hóa lipid và tăng men gan.

Người bệnh được điều trị ngoại trú bằng acyclovir, corticoid, thuốc hỗ trợ thần kinh và giảm đau, song song với kiểm soát đường huyết, mỡ máu, chăm sóc mắt và tai.

Hội chứng Ramsay Hunt liên quan đến virus Varicella-Zoster (VZV), loại virus gây bệnh thủy đậu. Sau giai đoạn mắc thủy đậu, virus có thể tồn tại tiềm ẩn trong các hạch thần kinh và tái hoạt động sau đó, gây viêm, tổn thương dây thần kinh, thường gặp ở dây thần kinh VII chi phối vận động cơ mặt.

Biểu hiện điển hình gồm đau tai hoặc đau quanh tai, tổn thương dạng mụn nước ở vành tai, ống tai hoặc khu vực lân cận và liệt mặt cùng bên. Khó khăn trong nhận diện nằm ở chỗ ba biểu hiện này không nhất thiết xuất hiện cùng một thời điểm. Đau có thể đến trước, mụn nước xuất hiện vài ngày sau rồi mới xảy ra liệt mặt; thậm chí một số trường hợp không có tổn thương da rõ ràng.

Diễn biến của bệnh nhân Đ.Q.T cho thấy đặc điểm này khá rõ. Những ngày đầu, triệu chứng chủ yếu là đau vùng gáy, đầu, quanh tai và góc hàm, trong khi kết quả chụp MRI sọ não chưa ghi nhận bất thường. Mụn nước và chảy dịch tai xuất hiện muộn hơn, tiếp đó mới phát hiện liệt dây thần kinh mặt.

Nếu dây thần kinh tiền đình - ốc tai bị ảnh hưởng, người bệnh còn có thể gặp ù tai, giảm thính lực, chóng mặt, mất thăng bằng hoặc buồn nôn. Một số trường hợp nặng có thể tổn thương thêm các dây thần kinh sọ khác.

Ramsay Hunt cũng dễ gây nhầm lẫn với liệt Bell bởi cả hai đều có thể gây liệt dây thần kinh mặt ngoại biên. Tuy nhiên, liệt Bell thường được xem là liệt mặt ngoại biên vô căn, còn Ramsay Hunt liên quan đến sự tái hoạt động của VZV và thường có thêm những dấu hiệu gợi ý như đau tai hoặc quanh tai rõ rệt, mụn nước dạng zona ở vành tai, ống tai, vùng miệng, cùng các rối loạn thính giác hoặc tiền đình.

Mức độ liệt mặt ở người mắc Ramsay Hunt cũng có thể nặng hơn, nguy cơ để lại biến chứng tăng nếu bệnh được phát hiện và điều trị muộn.

Trường hợp ông Đ.Q.T còn cho thấy một vấn đề đáng chú ý trong chẩn đoán. Xét nghiệm VZV-IgM của bệnh nhân âm tính, nhưng kết quả này không đủ để loại trừ hội chứng Ramsay Hunt bởi VZV-IgM có thể không tăng ở một số trường hợp virus tái hoạt động.

Vì vậy, chẩn đoán không thể chỉ dựa vào một chỉ số xét nghiệm riêng lẻ mà cần đặt kết quả xét nghiệm bên cạnh diễn biến triệu chứng và thăm khám lâm sàng. Với VZV-IgG, sự thay đổi nồng độ kháng thể qua hai lần xét nghiệm có thể cung cấp thêm thông tin hỗ trợ đánh giá tình trạng tái hoạt động của virus.

Trường hợp có tổn thương da phù hợp, xét nghiệm PCR có thể được sử dụng để phát hiện DNA của VZV từ dịch mụn nước hoặc tổn thương da. Phương pháp này có vai trò hỗ trợ, đặc biệt với những ca biểu hiện không điển hình hoặc cần làm rõ nguyên nhân, trong khi bệnh sử và các dấu hiệu lâm sàng vẫn giữ vai trò quan trọng trong nhận diện hội chứng Ramsay Hunt.

Việc phát hiện sớm càng có ý nghĩa bởi bệnh có thể để lại đau thần kinh sau zona, giảm thính lực hoặc tổn thương giác mạc, đặc biệt nếu mắt bên liệt không thể nhắm kín và không được chăm sóc, bảo vệ đúng cách.

Các bác sỹ khuyến cáo người dân nên đi khám nếu xuất hiện đau sâu hoặc đau dữ dội trong và quanh một bên tai kéo dài, nhất là lúc có thêm cảm giác rát da, phát ban, mụn nước ở vành tai, ống tai hoặc vùng miệng. Méo miệng, yếu hoặc liệt một bên mặt, khó nhắm kín mắt, ù tai, giảm thính lực, chóng mặt, mất thăng bằng hay buồn nôn cũng là những dấu hiệu cần được chú ý.

Đau quanh tai xuất hiện trước mụn nước hoặc liệt mặt rất dễ được xem như một triệu chứng riêng lẻ và điều trị kéo dài mà không tìm được nguyên nhân. Sự xuất hiện nối tiếp của đau tai, tổn thương da và bất thường vận động cơ mặt cần được xem xét trong cùng một diễn biến bệnh để người bệnh được thăm khám sớm, tránh bỏ lỡ thời điểm điều trị thuận lợi.

Đi khám đại tràng, bất ngờ phát hiện tổn thương tiền ung thư thực quản

Ông N.V.D, 64 tuổi, ở Hà Nội đến viện khám sau vài ngày đi ngoài có triệu trứng bất thường. Ba năm trước, người bệnh từng được phát hiện polyp đại tràng nhưng chưa can thiệp điều trị, ngoài ra đang sử dụng thuốc kiểm soát tăng huyết áp định kỳ.

Điều đáng chú ý là ngoài bất thường về đại tiện, ông D. hoàn toàn không có những triệu chứng gợi ý bệnh lý đường tiêu hóa trên như đau rát sau xương ức, khó nuốt, nuốt nghẹn hay nôn ra máu. Với tiền sử polyp cùng tình trạng đi ngoài phân đen, các bác sỹ quyết định khảo sát đường tiêu hóa, bao gồm thực quản, dạ dày và đại trực tràng nhằm tìm nguyên nhân và phát hiện những tổn thương đi kèm.

Chính quá trình kiểm tra này đã phát hiện một bất thường mà người bệnh hoàn toàn không biết trước đó. Qua nội soi, các bác sỹ phát hiện một vùng niêm mạc bất thường tại thực quản, cách cung răng trên khoảng 28-32 cm. Dưới ánh sáng trắng thông thường, tổn thương có dạng phẳng, thay đổi màu sắc khá nhẹ nên có thể khó phân biệt với những biến đổi lành tính của niêm mạc.

Mẫu mô tại vùng nghi ngờ sau đó được lấy để xét nghiệm mô bệnh học. Kết quả xác định bệnh nhân bị loạn sản biểu mô vảy thực quản độ cao. Trên vi thể, tế bào biểu mô tăng sinh, mất trật tự cấu trúc, nhân to và tăng sắc lan tới các lớp bề mặt nhưng chưa vượt qua màng đáy.

Trong cùng quá trình thăm khám, nội soi đại trực tràng cũng phát hiện các polyp u tuyến ống. Các bác sỹ đã cắt bỏ polyp qua nội soi và sử dụng clip để dự phòng, kiểm soát chảy máu sau can thiệp.

Như vậy, lý do ban đầu đưa ông D. tới bệnh viện liên quan đến đại tràng, nhưng quá trình kiểm tra lại giúp phát hiện thêm một tổn thương đáng lo ngại ở thực quản, dù người bệnh chưa xuất hiện bất cứ triệu chứng đặc hiệu nào tại cơ quan này.

Trường hợp ông D. cũng cho thấy một thách thức trong phát hiện sớm các bất thường đường tiêu hóa. Tổn thương tiền ung thư hoặc ung thư ở giai đoạn sớm có thể chưa gây đau, nuốt nghẹn, chảy máu hay những biểu hiện đủ rõ khiến người bệnh chủ động đi khám. Đến lúc triệu chứng xuất hiện, tổn thương có thể đã tiến triển hơn.

Các bác sỹ khuyến cáo người có nguy cơ cao mắc bệnh lý đường tiêu hóa cần chủ động thăm khám và tầm soát theo tư vấn chuyên môn, đặc biệt với người có tiền sử polyp đường tiêu hóa, tiền sử gia đình mắc ung thư tiêu hóa hoặc có các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, sử dụng rượu bia.

Những bất thường như đi ngoài phân đen, đại tiện ra máu, đau bụng kéo dài, sút cân không rõ nguyên nhân, khó nuốt hoặc nuốt nghẹn cũng cần được thăm khám thay vì tự điều trị kéo dài. Phát hiện tổn thương từ giai đoạn tiền ung thư không chỉ mở rộng cơ hội can thiệp sớm mà còn có thể giúp người bệnh tránh những phương pháp điều trị phức tạp hơn nếu bệnh tiến triển thành ung thư xâm nhập.

Tin liên quan
Tin khác