Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 7/3: Bộ Y tế chủ trì Chương trình chăm sóc sức khỏe, dân số quy mô quốc gia
D.Ngân - 07/03/2026 11:05
Chính phủ giao Bộ Y tế chủ trì triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035 theo Nghị quyết số 34/NQ-CP.

Bộ Y tế chủ trì Chương trình chăm sóc sức khỏe, dân số quy mô quốc gia

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 34/NQ-CP về Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 262/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035.

Bộ Y tế là cơ quan chủ trì Chương trình, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương xây dựng Báo cáo nghiên cứu khả thi Chương trình giai đoạn 2026-2030.

Theo kế hoạch, các bộ, ngành và địa phương có trách nhiệm tổ chức quán triệt, tuyên truyền và phổ biến sâu rộng Nghị quyết số 262/2025/QH15, Nghị quyết của Chính phủ cùng các văn bản hướng dẫn liên quan tới các cấp, các ngành và người dân trong quá trình triển khai thực hiện chương trình.

Các bộ, ngành đồng thời phải xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Nghị quyết số 262/2025/QH15 theo đúng quy định; rà soát, xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý, điều hành cũng như hướng dẫn thực hiện.

Việc triển khai Chương trình phải tuân thủ quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước và các quy định pháp luật có liên quan, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát ở các cấp, các ngành nhằm bảo đảm thực hiện đúng mục tiêu, nhiệm vụ đã được phê duyệt.

Theo Nghị quyết, Bộ Y tế là cơ quan chủ trì Chương trình, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương xây dựng Báo cáo nghiên cứu khả thi Chương trình giai đoạn 2026-2030. Trên cơ sở đó, Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt Quyết định đầu tư Chương trình giai đoạn 2026-2030 theo quy định.

Bộ Y tế cũng có trách nhiệm xây dựng quy định về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách Trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương cho giai đoạn 2026-2030, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Căn cứ kết quả thực hiện giai đoạn 2026-2030, Bộ Y tế sẽ tham mưu Chính phủ trình Quốc hội quyết định nguồn vốn cho giai đoạn 2031-2035; đồng thời xây dựng Báo cáo nghiên cứu khả thi và các quy định về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách Trung ương cũng như tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương cho giai đoạn tiếp theo.

Bộ Y tế cũng được giao tham mưu Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tổ chức thực hiện, theo dõi, kiểm tra, đánh giá, sơ kết và tổng kết Chương trình theo quy định. Hằng năm, cơ quan này sẽ tham mưu Chính phủ báo cáo Quốc hội về kết quả thực hiện Chương trình tại thời điểm cuối năm hoặc theo yêu cầu của Quốc hội.

Các bộ, cơ quan Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ được phân công có trách nhiệm chủ động phối hợp với Bộ Y tế xây dựng, hoàn thiện các nội dung hoạt động của Chương trình; đề xuất ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn chi tiết, định mức và tiêu chuẩn kỹ thuật để tạo thuận lợi cho các địa phương trong quá trình triển khai.

Chính phủ cũng giao UBND các địa phương xây dựng kế hoạch, ưu tiên cân đối và bố trí ngân sách địa phương, đồng thời huy động các nguồn lực hợp pháp khác để thực hiện Chương trình trên địa bàn, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu đã được phê duyệt và không để xảy ra tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản.

Bộ Y tế thông tin về đề xuất giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần trong dự thảo Luật Phòng bệnh

Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) thông tin về việc đưa các yếu tố như áp lực học tập, công việc, sang chấn tâm lý, stress kéo dài… vào diện giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần trong dự thảo Thông tư hướng dẫn một số điều của Luật Phòng bệnh.

Theo Cục Phòng bệnh, ngày 5/3 đơn vị đã đăng tải dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ và Bộ Y tế để xin ý kiến các cơ quan, tổ chức, đơn vị và người dân. Dự thảo có nội dung quy định về đối tượng và nội dung giám sát trong phòng, chống rối loạn tâm thần.

Tại mục 2 của dự thảo Thông tư, đối tượng giám sát được chia thành ba nhóm chính. Nhóm thứ nhất là người mắc rối loạn tâm thần, bao gồm các rối loạn phổ biến như tâm thần phân liệt, động kinh, trầm cảm, rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ và các rối loạn khác theo danh mục chuyên môn.

Nhóm thứ hai là người tử vong do rối loạn tâm thần, được xác định theo phân loại bệnh quốc tế. Đây là hoạt động theo dõi có hệ thống các trường hợp tử vong mà rối loạn tâm thần được xác định là nguyên nhân chính, dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán và mã hóa bệnh quốc tế, nhằm phục vụ công tác y tế công cộng. Việc theo dõi giúp nhận diện các bệnh lý rối loạn tâm thần có nguy cơ dẫn đến tử vong để kịp thời có biện pháp can thiệp.

Nhóm thứ ba là người có nguy cơ mắc rối loạn tâm thần. Theo dự thảo, nhóm này bao gồm những người từng có tiền sử rối loạn tâm thần hoặc có ít nhất một yếu tố nguy cơ về sinh học, tâm lý, xã hội hoặc các yếu tố liên quan khác.

Dự thảo cũng nêu bốn nhóm yếu tố nguy cơ liên quan đến rối loạn tâm thần.

Thứ nhất là yếu tố sinh học và di truyền, gồm tiền sử gia đình có người mắc rối loạn tâm thần; tổn thương não như chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não; mắc các bệnh mạn tính như đái tháo đường, tim mạch, ung thư, HIV/AIDS, động kinh; các giai đoạn sinh lý đặc biệt như dậy thì, sau sinh, tiền mãn kinh - mãn kinh và người cao tuổi.

Thứ hai là yếu tố tâm lý, trong đó có stress kéo dài; sang chấn tâm lý do mất người thân, ly hôn, thất nghiệp; bạo lực gia đình, xâm hại, tai nạn hoặc thảm họa; đặc điểm nhân cách nhạy cảm, dễ lo âu, tự ti hoặc cầu toàn quá mức; kỹ năng đối phó kém với stress và cảm xúc tiêu cực; tiền sử có ý nghĩ hoặc hành vi tự sát.

Thứ ba là yếu tố xã hội như tình trạng cô lập, thiếu hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng; kỳ thị, phân biệt đối xử, đặc biệt với nhóm yếu thế; môi trường sống không an toàn, có bạo lực, tội phạm, thiên tai; lạm dụng các chất kích thích như rượu, bia, ma túy, thuốc an thần.

Thứ tư là các yếu tố khác, trong đó đáng chú ý là áp lực cao và kéo dài liên quan đến học tập, lao động và kinh tế.

Cục Phòng bệnh cho biết, nội dung này là quy định mới trong Luật Phòng bệnh và đang được các nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực y tế tiếp tục thảo luận, góp ý.

Sau khi đăng tải dự thảo để lấy ý kiến, Cục Phòng bệnh đã nhận được một số phản hồi từ cơ quan báo chí và người dân. Đơn vị đã tiếp thu các ý kiến và đang làm việc với các đơn vị chuyên môn về tâm thần cũng như cơ quan quản lý liên quan để hoàn thiện dự thảo.

Theo Cục Phòng bệnh, việc hoàn thiện dự thảo nhằm xây dựng văn bản hướng dẫn Luật Phòng bệnh có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn và không tạo gánh nặng trong tổ chức thực hiện. Đồng thời, cơ quan soạn thảo sẽ xây dựng bộ công cụ hỗ trợ cơ sở y tế và người dân tự đánh giá các yếu tố nguy cơ, qua đó chủ động phòng ngừa, giảm nguy cơ gia tăng các rối loạn tâm thần trong cộng đồng.

Cục Phòng bệnh cũng mong tiếp tục nhận được ý kiến góp ý từ các cơ quan, tổ chức, đơn vị và người dân đối với dự thảo hướng dẫn Luật Phòng bệnh cũng như các văn bản chuyên môn liên quan nhằm tạo sự đồng thuận xã hội và nâng cao hiệu quả bảo vệ sức khỏe tâm thần cho người dân.

Ứng dụng kỹ thuật xâm lấn tối thiểu hiện đại vào điều trị ung thư ở phụ nữ

Đông đảo chuyên gia trong nước và quốc tế đã trao đổi chuyên môn tại hội thảo “Phẫu thuật nội soi qua hốc tự nhiên âm đạo (vNOTES) trong phụ khoa: Thách thức và xu hướng tương lai” do Bệnh viện K tổ chức ngày 6/3.

Sự kiện đánh dấu một bước tiến quan trọng trong ứng dụng kỹ thuật xâm lấn tối thiểu tại Việt Nam, khi Bệnh viện K lần đầu tiên thực hiện thành công kỹ thuật sinh thiết hạch cửa bằng ICG kết hợp phẫu thuật vNOTES trong điều trị ung thư phụ khoa vào tháng 1/2026.

Điểm nhấn của chương trình là phiên phẫu thuật trình diễn trực tiếp hai ca bệnh phức tạp do Tiến sỹ, bác sỹ Lê Trí Chinh, Trưởng khoa Ngoại phụ khoa, Bệnh viện K cùng ê-kíp thực hiện.

Ca thứ nhất là phẫu thuật vNOTES cắt tử cung toàn bộ trên bệnh nhân có tiền sử mổ lấy thai. Đây là trường hợp nhiều thách thức do nguy cơ dính sau mổ cao, đòi hỏi phẫu tích chính xác trong không gian phẫu thuật hạn chế.

Ca thứ hai là phẫu thuật vNOTES cắt tử cung toàn bộ và hai phần phụ, kết hợp sinh thiết hạch cửa sau phúc mạc bằng chất chỉ thị huỳnh quang ICG (Indocyanine Green) trên bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung giai đoạn sớm.

Kỹ thuật này được xem là giải pháp “hai trong một”, vừa giúp xác định chính xác hạch cửa - hạch đầu tiên tiếp nhận dòng bạch huyết từ khối u - vừa thực hiện phẫu thuật triệt căn. Nhờ đó, bệnh nhân có thể giảm nguy cơ biến chứng phù bạch huyết chi dưới, ít đau hơn, phục hồi nhanh và không để lại sẹo ngoài.

Dưới sự tham gia của các chuyên gia quốc tế như Phó giáo sư, Tiến sỹ, bác sỹ Nguyễn Quốc Trường Chinh (Đại học Y khoa Texas, Hoa Kỳ) và Tiến sỹ, bác sỹ Đỗ Hữu Triều (Trung tâm Y khoa Đại học Rush, Hoa Kỳ), các bác sỹ tham dự đã trực tiếp quan sát quy trình tiêm ICG, kỹ thuật xác định hạch cửa dưới ánh sáng cận hồng ngoại và các thao tác phẫu tích trong không gian phẫu thuật hẹp.

Trong khuôn khổ hội thảo, bốn báo cáo chuyên môn đã được trình bày, tập trung vào kinh nghiệm triển khai kỹ thuật vNOTES trong thực hành lâm sàng. Tiến sỹ, bác sỹ Lê Trí Chinh công bố kết quả gần 300 ca phẫu thuật vNOTES được thực hiện tại Bệnh viện K, bao gồm cả các bệnh lý phụ khoa lành tính và ung thư, cho thấy phương pháp này an toàn, hiệu quả và giúp rút ngắn thời gian hồi phục cho người bệnh.

Theo PGS-TS.Phạm Văn Bình, Phó Giám đốc Bệnh viện K, Chủ tọa hội thảo, kết quả đạt được là minh chứng cho định hướng phát triển đúng đắn của bệnh viện trong việc cập nhật và làm chủ các kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, từ đó phục vụ hiệu quả hơn cho người bệnh trong nước. Việc triển khai thành công sinh thiết hạch cửa bằng ICG qua đường vNOTES được đánh giá là bước tiến quan trọng của phẫu thuật ung thư phụ khoa tại Việt Nam.

Hội thảo cũng tạo diễn đàn để các chuyên gia trao đổi về những thách thức khi triển khai vNOTES, từ yêu cầu đào tạo phẫu thuật viên đến trang thiết bị và quy trình kỹ thuật. Sự tham gia của các chuyên gia Hoa Kỳ được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội hợp tác chuyên môn, đào tạo và chuyển giao công nghệ trong thời gian tới.

Với những kết quả bước đầu, Bệnh viện K tiếp tục khẳng định vai trò là cơ sở đầu ngành trong điều trị ung thư, đồng thời là trung tâm đào tạo và chuyển giao kỹ thuật cho các cơ sở y tế trên cả nước.

Tin liên quan
Tin khác