Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 7/6: Bác sỹ cảnh báo hậu quả của việc trì hoãn khám khối u
D.Ngân - 07/06/2026 07:47
Suốt một năm sống chung với khối u ngày càng lớn, người phụ nữ chỉ nhập viện khi khối u nặng gần 4kg. Trường hợp này là lời cảnh báo về hậu quả của việc trì hoãn thăm khám

Bác sỹ cảnh báo hậu quả của việc trì hoãn khám khối u

Khối u phát triển âm thầm suốt một năm, nặng gần 4kg khiến người phụ nữ 50 tuổi đau đớn, sinh hoạt khó khăn. Chỉ đến khi ngực căng tức, khối u có nguy cơ vỡ, người bệnh mới tới bệnh viện thăm khám và được phẫu thuật thành công.

Bác sỹ của Bệnh viện K thực hiện phẫu thuật khối u khổng lồ cho bệnh nhân.

Người bệnh là chị V.T.M.A. (50 tuổi, quê Ninh Bình). Trước đó, chị nhận thấy ngực phải xuất hiện khối bất thường và ngày càng to nhanh. Tuy nhiên, do tâm lý e ngại, chị không đi khám mà cố gắng chịu đựng trong thời gian dài. Càng về sau, khối u phát triển mạnh, gây đau tức, chèn ép và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt hằng ngày nên chị mới đến khám tại Bệnh viện K.

Kết quả thăm khám và chẩn đoán hình ảnh cho thấy người bệnh có khối u xơ tuyến vú phải kích thước rất lớn, đường kính khoảng 25cm. Hai bầu vú mất cân đối rõ rệt do khối u phát triển quá mức, làm biến dạng vùng ngực.

TS.Phạm Hồng Khoa, Trưởng Khoa Khám bệnh Quán Sứ, Bệnh viện K cho biết, người bệnh nhập viện trong tình trạng sức khỏe toàn thân ổn định nhưng khối u đã tồn tại từ lâu và tiến triển nhanh.

Với kích thước lớn bất thường, khối u có nguy cơ vỡ, chảy máu, gây nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống. Sau hội chẩn, các bác sỹ quyết định phẫu thuật loại bỏ toàn bộ khối u đồng thời cố gắng bảo tồn tuyến vú cho người bệnh.

Ca phẫu thuật được chuẩn bị kỹ lưỡng nhằm hạn chế tối đa nguy cơ mất máu và các biến chứng có thể xảy ra. Ê-kíp phẫu thuật đã thành công loại bỏ hoàn toàn khối u đường kính 26cm, nặng khoảng 3,5kg, đồng thời bảo tồn được tuyến vú.

Theo TS.Phạm Hồng Khoa, việc can thiệp phẫu thuật là cần thiết bởi nếu tiếp tục trì hoãn, khối u có thể vỡ, loét, gây đau đớn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh.

Điều đáng tiếc là người bệnh đã chậm trễ đi khám trong thời gian dài kể từ lúc phát hiện bất thường. Nếu được phát hiện sớm, việc điều trị sẽ đơn giản hơn rất nhiều, thời gian hồi phục nhanh hơn và người bệnh cũng tránh được những áp lực tâm lý kéo dài.

Sau phẫu thuật, sức khỏe của chị A. ổn định. Người bệnh và gia đình vui mừng vì không còn mặc cảm do hai bên ngực chênh lệch quá lớn, đồng thời các hoạt động sinh hoạt hằng ngày cũng trở nên dễ dàng hơn. Các bác sỹ đã hướng dẫn chế độ chăm sóc hậu phẫu, dinh dưỡng và vệ sinh vết mổ. Nếu được chăm sóc tốt và kiểm soát nhiễm trùng hiệu quả, vết thương có thể ổn định sau khoảng 5 đến 7 ngày.

Từ trường hợp trên, các bác sỹ Bệnh viện K khuyến cáo phụ nữ cần chủ động theo dõi sức khỏe tuyến vú, khám định kỳ và tự kiểm tra những thay đổi bất thường trên cơ thể. Bất kỳ dấu hiệu nào như xuất hiện khối u, thay đổi kích thước bầu vú, đau kéo dài hoặc biến dạng vùng ngực đều cần được thăm khám sớm để phát hiện và điều trị kịp thời, tránh những hậu quả đáng tiếc do tâm lý chủ quan hoặc e ngại.

Liệu pháp sinh học thế hệ mới mở thêm cơ hội cho người bệnh hen nặng

Tại Việt Nam, khoảng 4 triệu người đang sống chung với bệnh hen, tương đương gần 4% dân số. Mỗi năm, căn bệnh này cướp đi sinh mạng của hàng nghìn người và tạo ra gánh nặng đáng kể cho hệ thống y tế. Đáng chú ý, nhóm bệnh nhân hen nặng chỉ chiếm từ 7-11% tổng số người mắc nhưng lại tiêu tốn gần 60% chi phí điều trị, phản ánh mức độ phức tạp và khó kiểm soát của bệnh.

Thực tế lâm sàng cho thấy người mắc hen nặng có nguy cơ nhập viện cấp cứu cao gấp 10 lần và nguy cơ tử vong cao gấp đôi so với nhóm hen nhẹ và trung bình. Mỗi năm, không ít bệnh nhân phải trải qua từ hai đợt kịch phát trở lên. Mỗi lần lên cơn hen cấp không chỉ là một đợt nhập viện mà còn kéo theo sự suy giảm chức năng hô hấp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng lao động và chất lượng cuộc sống.

Một thách thức khác là nhiều bệnh nhân hen nặng phải sử dụng corticosteroid đường uống kéo dài để kiểm soát bệnh. Dù giúp cải thiện triệu chứng trước mắt, việc dùng thuốc lâu dài có thể dẫn đến hàng loạt biến chứng như loãng xương, đái tháo đường, đục thủy tinh thể và bệnh lý tim mạch.

Không ít người bệnh rơi vào tình trạng kiểm soát được cơn hen nhưng lại phải đối mặt với những bệnh lý mới phát sinh do tác dụng phụ của thuốc. Đây cũng là thực trạng mà nhiều bệnh nhân hen nặng đang phải chấp nhận trong nhiều năm qua.

Theo PGS-TS.Lê Khắc Bảo, Phó Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, điều trị hen nặng tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn bởi người bệnh thường có nhiều yếu tố kích phát đồng thời, kèm theo các bệnh lý nền như béo phì, trào ngược dạ dày thực quản hoặc ngưng thở khi ngủ. Hiện tỷ lệ bệnh nhân hen nặng được kiểm soát tốt mới đạt hơn 39%, trong khi hơn một phần ba bệnh nhân vẫn phải sử dụng corticosteroid toàn thân nhiều lần trong năm.

Trong nhiều năm, mục tiêu điều trị hen chủ yếu tập trung vào việc giảm triệu chứng và hạn chế các đợt cấp. Tuy nhiên, với hen nặng, cách tiếp cận này đang bộc lộ những giới hạn rõ rệt.

Được biết, dù tỷ lệ hen nặng không cao nhưng chi phí điều trị lại chiếm tỷ trọng rất lớn do người bệnh thường xuyên nhập viện, điều trị kéo dài và gặp nhiều biến chứng. Điều đó đòi hỏi phải thay đổi cách tiếp cận không chỉ ở cấp độ điều trị cá nhân mà còn trong quản lý bệnh ở quy mô toàn hệ thống.

Từ yêu cầu thực tiễn đó, y học hô hấp hiện đại đang chuyển dần từ mục tiêu kiểm soát triệu chứng sang mục tiêu cao hơn là đạt lui bệnh lâm sàng. Đây là trạng thái người bệnh không còn các đợt kịch phát, không phải sử dụng corticosteroid đường uống kéo dài, các triệu chứng được kiểm soát bền vững và chức năng hô hấp duy trì ổn định trong thời gian dài.

Một trong những hướng đi mới đang được giới chuyên môn đặc biệt quan tâm là liệu pháp sinh học thế hệ mới Tezepelumab. Thuốc tác động vào TSLP, một cytokine biểu mô được xem là yếu tố khởi phát toàn bộ chuỗi phản ứng viêm đường thở.

Theo chuyên gia, việc ức chế TSLP đồng nghĩa với can thiệp vào gốc rễ của bệnh thay vì chỉ xử lý những hậu quả do quá trình viêm gây ra.

Các nghiên cứu quốc tế cho thấy hơn một phần ba người bệnh có thể đạt lui bệnh lâm sàng khi sử dụng liệu pháp này. Tại Việt Nam, những dữ liệu ban đầu cũng ghi nhận khả năng giảm từ 60-70% số đợt kịch phát ở người bệnh hen nặng, bất kể kiểu hình bệnh hay các dấu ấn sinh học.

Tuy nhiên, từ tiến bộ khoa học đến lợi ích thực tế cho người bệnh vẫn còn một khoảng cách cần được thu hẹp. Theo PGS-TS.Lê Thị Tuyết Lan, Chủ tịch Liên chi hội Hen - Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng TP.HCM, dù bảo hiểm y tế đã hỗ trợ khoảng 80% chi phí điều trị hen và các thuốc hít hiện nay an toàn hơn trước rất nhiều, những thách thức về tuân thủ điều trị và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, vẫn là rào cản lớn.

Bên cạnh đó, việc triển khai các liệu pháp sinh học tại Việt Nam còn gặp không ít khó khăn do chi phí điều trị cao, thiếu các trung tâm chuyên sâu về hen nặng, hạn chế trong chẩn đoán kiểu hình bệnh và năng lực phát hiện sớm tại tuyến cơ sở.

Các chuyên gia cho rằng cần đẩy mạnh đào tạo nhân lực y tế, xây dựng mạng lưới quản lý hen chuyên sâu và từng bước hoàn thiện chính sách bảo hiểm y tế nhằm mở rộng khả năng tiếp cận các phương pháp điều trị tiên tiến.

Ho kéo dài gần một năm, phát hiện mắc bệnh tự miễn hiếm gặp

Người bệnh là ông Tiến, 52 tuổi, sinh sống nhiều năm tại Cộng hòa Séc. Gần một năm trước, ông bắt đầu xuất hiện tình trạng ho kéo dài, cơ thể mệt mỏi và sụt khoảng 6 kg. Thời gian gần đây, các triệu chứng ngày càng nặng hơn với đau ngực tăng dần, ho khạc đờm xanh, đau và sưng nhiều khớp nhỏ ở hai bàn tay nên đến viện thăm khám.

Qua thăm khám ban đầu, các bác sỹ ghi nhận người bệnh bị tràn dịch màng phổi phải. Kết quả chụp cắt lớp vi tính ngực cho thấy tình trạng tràn dịch màng phổi kèm tổn thương viêm nhu mô phổi và nhiều hạch nhỏ xuất hiện tại trung thất, hạch thượng đòn và hố nách hai bên.

Để xác định nguyên nhân, người bệnh được chọc hút dịch màng phổi. Kết quả cho thấy đây là dịch mủ. Các bác sỹ tiếp tục nội soi phế quản và phát hiện tổn thương viêm loét ở thành sau khí quản. Mẫu sinh thiết niêm mạc khí quản được gửi giải phẫu bệnh nhằm loại trừ ung thư và các bệnh lý nhiễm trùng đặc biệt. Đồng thời, hàng loạt xét nghiệm vi sinh chuyên sâu được thực hiện để tìm căn nguyên do vi khuẩn, lao hoặc nấm.

Kết quả cho thấy người bệnh nhiễm nấm Aspergillus đường hô hấp, loại nấm thường gây bệnh ở những người có rối loạn miễn dịch hoặc mắc các bệnh lý nền kéo dài.

Tuy nhiên, điều khiến các bác sỹ đặc biệt lưu ý không chỉ nằm ở tổn thương hô hấp. Bên cạnh tình trạng ho kéo dài, ông Tiến còn xuất hiện yếu cơ vùng đùi, đau các khớp nhỏ ở bàn tay kéo dài và sụt cân không rõ nguyên nhân. Những dấu hiệu này gợi mở khả năng tồn tại một bệnh lý nền phức tạp hơn.

Trước bệnh cảnh nhiều biểu hiện bất thường, các bác sỹ Khoa Hô hấp đã phối hợp hội chẩn đa chuyên khoa với các chuyên gia Cơ xương khớp, Dị ứng - Miễn dịch, Chẩn đoán hình ảnh và Giải phẫu bệnh để tìm nguyên nhân gốc rễ.

Người bệnh tiếp tục được thực hiện nhiều kỹ thuật chuyên sâu như chụp cộng hưởng từ cơ đùi hai bên, xét nghiệm miễn dịch tự miễn, sinh thiết cơ đùi, sinh thiết hạch nách trái và chọc hút tế bào hạch thượng đòn phải nhằm loại trừ các bệnh lý ác tính và những căn nguyên nhiễm trùng khác.

Kết quả chụp cộng hưởng từ ghi nhận tình trạng teo cơ và tổn thương nghi ngờ viêm cơ vùng đùi. Sinh thiết cơ đùi trái cho thấy hình ảnh teo và thoái hóa sợi cơ kèm thâm nhiễm tế bào viêm quanh mạch máu. Đáng chú ý, các xét nghiệm miễn dịch phát hiện nhiều tự kháng thể dương tính, qua đó xác định người bệnh mắc viêm cơ tự miễn, một bệnh lý hiếm gặp do hệ miễn dịch rối loạn và tấn công chính các mô của cơ thể.

Theo TS.Phạm Thị Lệ Quyên, chuyên khoa hô hấp, viêm cơ tự miễn là nhóm bệnh hiếm gặp nhưng có thể gây tổn thương nhiều cơ quan như cơ, phổi, khớp, da và một số cơ quan khác. Bệnh thường diễn tiến âm thầm với các biểu hiện không đặc hiệu như ho kéo dài, đau khớp, yếu cơ hoặc sụt cân nên dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lý hô hấp, viêm nhiễm thông thường.

Chính vì vậy, nhiều trường hợp chỉ được phát hiện sau thời gian dài điều trị không hiệu quả hoặc đã xuất hiện các biến chứng tại nhiều cơ quan.

Các chuyên gia khuyến cáo người dân không nên chủ quan với tình trạng ho kéo dài, sụt cân bất thường, đau khớp hoặc yếu cơ kéo dài. Việc thăm khám sớm và đánh giá toàn diện tại các cơ sở y tế có chuyên khoa sâu có ý nghĩa quan trọng trong phát hiện sớm những bệnh lý hiếm gặp, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và hạn chế biến chứng nguy hiểm.

Tin liên quan
Tin khác