Y tế - Sức khỏe
Chi phí điều trị bệnh mạn tính đè nặng quỹ bảo hiểm y tế
D.Ngân - 19/04/2026 09:25
Nhóm bệnh mạn tính không còn xuất hiện đơn lẻ mà ngày càng đi kèm nhiều bệnh lý, kéo theo chi phí điều trị tăng nhanh, tạo áp lực lớn lên quỹ bảo hiểm y tế. Chỉ riêng năm 2025, tổng chi cho nhóm bệnh này đã lên tới gần 20.000 tỷ đồng, tăng gần 18% so với trước đó.

Phát biểu tại Hội thảo “Hướng tới hệ thống bảo hiểm y tế bền vững tại Việt Nam”, ông Nguyễn Đức Hòa, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho hay, chi phí khám chữa bệnh đang gia tăng mạnh, đặc biệt từ các bệnh mạn tính không lây nhiễm như tăng huyết áp, đái tháo đường, tim mạch và các rối loạn chuyển hóa.

Chi phí khám chữa bệnh đang gia tăng mạnh, đặc biệt từ các bệnh mạn tính không lây nhiễm như tăng huyết áp, đái tháo đường, tim mạch và các rối loạn chuyển hóa.

Báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho thấy, năm 2025, cả nước có gần 98 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, tương đương hơn 95% dân số. Tổng số lượt khám chữa bệnh bảo hiểm y tế vượt 195 triệu lượt, tăng 6,5% so với năm trước. Trong khi đó, chi phí đề nghị thanh toán lên tới 166.400 tỷ đồng, tăng hơn 16%.

Đáng chú ý, phần lớn chi phí này đến từ các bệnh mạn tính. Quỹ bảo hiểm y tế hiện chi trả cho gần 8 triệu người tăng huyết áp, hơn 3,3 triệu bệnh nhân đái tháo đường, trên 1,1 triệu người mắc bệnh hô hấp mạn tính và khoảng 500.000 bệnh nhân ung thư. Riêng nhóm bệnh không lây nhiễm ghi nhận khoảng 51 triệu lượt khám, với tổng chi gần 20.000 tỷ đồng.

Theo bà Vũ Thị Thanh Huyền, Trưởng Khoa Nội tiết - Cơ xương khớp, Bệnh viện Lão khoa Trung ương, đặc điểm đáng lo ngại là bệnh mạn tính ngày nay thường đi kèm nhiều bệnh lý khác. Một bệnh nhân có thể đồng thời mắc 2-3 bệnh như tim mạch, thận và rối loạn chuyển hóa, khiến chi phí điều trị tăng vọt.

Thực tế, khoảng 55% bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng tim mạch, và khoảng một phần ba tiến triển thành bệnh thận mạn. Hơn 80% trường hợp được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, buộc phải điều trị biến chứng với chi phí cao, thậm chí cần lọc máu hoặc can thiệp chuyên sâu.

Một nguyên nhân quan trọng khiến chi phí tăng là tỷ lệ kiểm soát bệnh còn thấp. Hiện chỉ dưới 30% bệnh nhân đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết. Điều này làm gia tăng nguy cơ biến chứng và kéo theo chi phí điều trị tích lũy ngày càng lớn.

Bên cạnh đó, thừa cân và béo phì đang trở thành yếu tố nguy cơ nổi bật. Khoảng 90% bệnh nhân đái tháo đường type 2 có tình trạng này, liên quan đến lối sống ít vận động, chế độ ăn giàu năng lượng và áp lực công việc.

Các bệnh mạn tính hiện chiếm hơn 70% gánh nặng bệnh tật và trên 80% số ca tử vong tại Việt Nam. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách phải chuyển hướng từ điều trị sang phòng ngừa và quản lý bệnh sớm, toàn diện và bền vững.

Theo các chuyên gia, việc kiểm soát hiệu quả các bệnh lý rối loạn chuyển hóa như béo phì, đái tháo đường, tim mạch và bệnh thận mạn không chỉ giúp giảm biến chứng lâu dài mà còn góp phần tối ưu nguồn lực BHYT, giảm chi phí xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, cách tiếp cận này mang lại hiệu quả rõ rệt. Một số quốc gia đã triển khai mô hình phân tầng nguy cơ để can thiệp sớm, đặc biệt với nhóm nguy cơ trung bình nhằm ngăn chặn diễn tiến nặng.

Tại Thái Lan, các bệnh không lây nhiễm cũng đang tạo gánh nặng kinh tế lớn, buộc hệ thống y tế phải chuyển hướng sang phòng ngừa sớm và quản lý toàn dân. Theo PGS Petch Rawdaree, Chủ tịch Liên đoàn Hiệp hội Phòng chống Bệnh không lây nhiễm Thái Lan, nước này phân chia dân số thành ba nhóm nguy cơ gồm thấp, trung bình và cao.

Trong đó, nhóm nguy cơ trung bình được coi là “điểm chặn” quan trọng, chiếm khoảng 30-35% chi phí y tế. Ngược lại, nhóm nguy cơ cao dù chỉ chiếm khoảng 5% dân số nhưng lại tiêu tốn tới 40-55% tổng chi phí y tế.

Từ thực tiễn đó, chính sách y tế tại Thái Lan tập trung vào việc ngăn bệnh chuyển nặng thông qua nâng cao sức khỏe cộng đồng, tăng cường y tế cơ sở, sàng lọc sớm và quản lý liên tục, đồng thời huy động sự tham gia của toàn xã hội.

Các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cũng cần đẩy mạnh cách tiếp cận tương tự, chuyển trọng tâm từ điều trị sang dự phòng, phát hiện sớm và quản lý hiệu quả bệnh mạn tính. Đây không chỉ là giải pháp giảm áp lực cho quỹ bảo hiểm y tế mà còn là hướng đi bền vững để bảo vệ sức khỏe cộng đồng trong dài hạn.

Về điều trị các bệnh lý mạn tính tại Việt Nam, theo thông tin từ Cục Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), Thông tư mới dự kiến ban hành vào ngày 1/7 tới đây sẽ chính thức cho phép kê đơn ngoại trú tối đa 2 - 3 tháng với các bệnh mạn tính nằm trong danh mục được phê duyệt.

Trước đó, theo Thông tư 52/2017/TT-BYT, thời gian kê đơn tối đa chỉ là 30 ngày, khiến người bệnh dù đã điều trị ổn định vẫn phải tái khám thường xuyên chỉ để nhận thuốc.

Đây là thực tế mà nhiều người bệnh và người nhà bệnh nhân đã “kêu trời” trong nhiều năm qua. Việc phải đến bệnh viện mỗi tháng một lần, xếp hàng từ sáng sớm, chờ đợi cả buổi chỉ để lấy vài chục viên thuốc là nỗi ám ảnh với không ít người già, người khó khăn trong đi lại.

Trong khi đó, chính sách chỉ cho phép kê đơn ngắn ngày khiến một số người từ bỏ quyền lợi bảo hiểm y tế, chọn mua thuốc tại hiệu thuốc tư cho tiện, dẫn đến thiệt thòi lớn về chi phí điều trị.

Chia sẻ về lý do thay đổi chính sách, ông Vương Ánh Dương, Phó cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) cho biết, việc kéo dài thời gian kê đơn thuốc cho bệnh mạn tính đã điều trị ổn định là hoàn toàn khả thi. Trong thời gian dịch Covid-19, Bộ Y tế từng cho phép cấp thuốc 3 tháng/lần để hạn chế người bệnh phải đến viện, và kết quả cho thấy tỷ lệ biến chứng hoặc phải điều chỉnh thuốc rất thấp, chỉ khoảng 3%.

Danh mục các bệnh được xem xét cấp thuốc dài hạn không chỉ gồm các bệnh phổ biến như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) hay rối loạn tâm thần, mà còn mở rộng đến khoảng 200 bệnh khác thuộc nhiều chuyên khoa.

Trong đó có các bệnh truyền nhiễm mạn tính như viêm gan B, HIV/AIDS; các bệnh về máu và miễn dịch như Thalassemia, thiếu máu tan máu, suy tủy xương; các bệnh nội tiết như suy tuyến giáp, nhiễm độc giáp; và nhiều bệnh lý thần kinh, thoái hóa như Alzheimer, Parkinson, sa sút trí tuệ.

Đặc biệt, một số bệnh phụ khoa ở tuổi vị thành niên như rong kinh tuổi dậy thì cũng được đưa vào diện xem xét kéo dài thời gian cấp thuốc. Việc mở rộng danh mục này không chỉ giúp người bệnh điều trị thuận tiện hơn, mà còn góp phần giảm tải cho hệ thống y tế tuyến đầu, đồng thời nâng cao chất lượng quản lý bệnh mạn tính và bệnh hiếm trong cộng đồng.

Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào nằm trong danh mục cũng sẽ được cấp mặc định 90 ngày thuốc. Các bác sỹ sẽ căn cứ vào tình trạng cụ thể của từng người bệnh, mức độ ổn định, khả năng tự theo dõi và tuân thủ điều trị để quyết định số ngày kê đơn phù hợp, có thể là 30, 60 hoặc 90 ngày.

Thầy thuốc kê đơn phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình, đồng thời hướng dẫn người bệnh nhận biết các dấu hiệu bất thường, cách xử lý và thời điểm cần tái khám.

Liên quan công tác khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, theo số liệu của cơ quan Bảo hiểm xã hội, tính đến tháng 9/2025, số lượt khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế lũy kế đạt 143,8 triệu lượt, với số tiền chi Bảo hiểm y tế là 119.283 tỷ đồng.

Tính đến hết năm 2024, toàn quốc có 13.395 cơ sở ký hợp đồng khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế, trong đó có 1.793 cơ sở công lập và hơn 10.390 trạm y tế xã, phường. Ngoài ra, còn có 1.212 cơ sở y tế tư nhân tham gia sâu rộng vào công tác khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế, góp phần giảm tình trạng quá tải cho các bệnh viện công lập.

Còn Vụ trưởng Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế) Trần Thị Trang cho biết, mặc dù tỷ lệ người dân tham gia Bảo hiểm y tế tăng nhanh, vẫn còn hơn 5% số dân chưa tham gia. Số người không tham gia chủ yếu là các nhóm đối tượng kinh tế eo hẹp, lệ thuộc gia đình hoặc lao động không có việc làm ổn định.

Tin liên quan
Tin khác