Y tế - Sức khỏe
Đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng, bài toán không chỉ của dân số
D.Ngân - 17/08/2026 10:42
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2035 đưa tỷ số giới tính khi sinh về khoảng 106 bé trai/100 bé gái, tương đương mức cân bằng tự nhiên.

Bộ Y tế đang lấy ý kiến đối với Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2026-2035, trong đó đặt mục tiêu từng bước đưa tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam trở lại mức cân bằng tự nhiên vào năm 2035.

Đề án dự kiến triển khai theo hai giai đoạn. Trong giai đoạn 2026-2030, tỷ số giới tính khi sinh cần giảm xuống dưới 109 bé trai/100 bé gái, với mức giảm bình quân khoảng 0,2 điểm mỗi năm. Giai đoạn 2031-2035, tốc độ điều chỉnh cần nhanh hơn để đến năm 2035 đưa tỷ số về khoảng 106 bé trai/100 bé gái.

Như vậy, trong vòng 10 năm, Việt Nam phải kéo tỷ số giới tính khi sinh giảm khoảng 4 điểm, từ mức 110 bé trai/100 bé gái hiện nay xuống ngưỡng cân bằng tự nhiên. Đây là mục tiêu không dễ dàng trong bối cảnh mất cân bằng giới tính khi sinh đã kéo dài nhiều năm và có nguyên nhân sâu xa từ tâm lý ưa thích con trai, bất bình đẳng giới cũng như những thay đổi về quy mô gia đình.

Bộ Y tế đang lấy ý kiến đối với Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2026-2035.

Năm 2025, cứ 100 bé gái được sinh ra tại Việt Nam có khoảng 110 bé trai. So với mức 112,2 bé trai/100 bé gái năm 2016, tỷ số này đã giảm 2,2 điểm và tốc độ cải thiện rõ hơn trong khoảng 5 năm gần đây.

Dù vậy, khoảng cách so với mức cân bằng tự nhiên 105-106 bé trai/100 bé gái vẫn còn đáng kể. Trong nhiều năm, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam duy trì trên mức 111 bé trai/100 bé gái, thậm chí năm 2018 từng lên tới 114,8.

Bộ Y tế nhận định kết quả cải thiện những năm gần đây là tín hiệu tích cực, nhưng chưa đủ để bảo đảm xu hướng giảm bền vững. Nếu các biện pháp can thiệp bị gián đoạn hoặc triển khai thiếu quyết liệt, tình trạng mất cân bằng có thể gia tăng trở lại, đặc biệt tại những địa bàn và nhóm dân cư còn nặng tâm lý phải có con trai.

Mất cân bằng giới tính khi sinh không chỉ được nhìn nhận qua chênh lệch số trẻ trai và trẻ gái chào đời trong một năm. Tác động đáng lo ngại hơn sẽ xuất hiện sau hàng chục năm, khi những thế hệ có chênh lệch giới tính lớn bước vào độ tuổi trưởng thành, lập gia đình và tham gia thị trường lao động.

Đáng chú ý, mất cân bằng giới tính khi sinh còn có thể tác động ngược trở lại bài toán mức sinh đang đặt ra tại Việt Nam. Khi số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ giảm tương đối so với nam giới, quy mô thế hệ sinh ra trong tương lai cũng chịu ảnh hưởng. Trong bối cảnh mức sinh đang giảm, sự cộng hưởng giữa mức sinh thấp, già hóa dân số và mất cân bằng giới tính có thể tạo thêm sức ép đối với quy mô và cơ cấu dân số trong dài hạn.

Đây cũng là lý do ngay cả khi tỷ số giới tính khi sinh được đưa trở lại mức tự nhiên, những hệ quả tích tụ từ các thế hệ trước vẫn có thể kéo dài thêm nhiều thập kỷ.

Bộ Y tế đánh giá mục tiêu đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng vào năm 2035 là khả thi nếu Việt Nam duy trì các biện pháp can thiệp đủ mạnh, liên tục và có trọng tâm.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, một chu kỳ biến động tỷ số giới tính khi sinh có thể kéo dài khoảng 30 năm, từ thời điểm bắt đầu mất cân bằng, tăng nhanh, đạt đỉnh, chững lại cho tới khi trở lại mức bình thường. Việt Nam bắt đầu ghi nhận tình trạng mất cân bằng rõ rệt từ khoảng năm 2004 và hiện được đánh giá đang ở giai đoạn chững lại.

Điều đó đồng nghĩa 10 năm tới có thể trở thành giai đoạn quan trọng để tạo ra bước chuyển thực chất, đưa tỷ số giới tính khi sinh trở lại quỹ đạo cân bằng.

Ở nhóm giải pháp pháp luật, cơ quan chức năng sẽ tăng cường giám sát, kiểm tra và xử lý nghiêm những hành vi lựa chọn giới tính thai nhi, đồng thời nâng cao năng lực quản lý tại địa phương.

Kinh nghiệm tại một số quốc gia châu Á cho thấy, khi hệ thống an sinh dành cho người cao tuổi được củng cố, tâm lý phải sinh con trai để có người nương tựa lúc về già cũng có thể giảm dần. Đồng thời, việc bảo đảm bình đẳng về quyền thừa kế, sở hữu tài sản, cơ hội học tập, việc làm và vị thế kinh tế của phụ nữ có ý nghĩa lâu dài trong thay đổi quan niệm về giá trị của con trai và con gái.

Đối với các chính sách hỗ trợ tài chính dành cho gia đình sinh con gái, Bộ Y tế cho rằng cần được thiết kế thận trọng. Nếu không phù hợp, chính sách có thể vô tình tạo ra cách hiểu rằng trẻ em gái là đối tượng cần được “bù đắp” vì có giá trị thấp hơn.

Do đó, các chính sách hỗ trợ cần gắn với mục tiêu nâng cao giá trị của trẻ em gái và thúc đẩy bình đẳng giới, đồng thời có thể cân nhắc mở rộng đối tượng hưởng lợi đối với trẻ em gái, không phụ thuộc thứ tự sinh hoặc việc gia đình đã có con trai hay chưa.

Một thay đổi đáng chú ý khác là thay vì triển khai chính sách dàn trải trên phạm vi cả nước, dữ liệu dân số sẽ được sử dụng để xác định những địa bàn và nhóm dân cư có nguy cơ mất cân bằng giới tính khi sinh cao, từ đó xây dựng giải pháp can thiệp phù hợp.

Cách tiếp cận này cho phép nguồn lực được tập trung vào những nơi tình trạng lựa chọn giới tính còn phổ biến, đồng thời thiết kế chính sách sát hơn với đặc điểm văn hóa, xã hội và dân số của từng khu vực.

Ngoài vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh thì việc duy trì mức sinh thay thế một cách bền vững cũng đang là vấn đề cấp bách đặt ra để nâng cao chất lượng dân số.

Tại Hội thảo chuyên đề công tác dân số năm 2026, TS.Nguyễn Thị Thu, Phó Trưởng phòng Quy mô Dân số và Kế hoạch hóa gia đình (Cục Dân số) cho biết, các tỉnh, thành phố đang tích cực xây dựng kế hoạch, nghiên cứu cơ chế hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế nhằm hiện thực hóa mục tiêu duy trì mức sinh thay thế một cách bền vững.

Thống kê đến tháng 7/2026, đã có 25 trong tổng số 34 tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch triển khai Chương trình bảo đảm mức sinh thay thế. Trong thời gian qua, Bộ Y tế tiếp tục tiếp nhận thêm kế hoạch của một số địa phương, trong khi các tỉnh, thành phố còn lại đang hoàn thiện hồ sơ để trình UBND cấp tỉnh xem xét, ban hành theo quy định.

Sau khi Quyết định số 291/QĐ-TTg được ban hành, đến nay đã có 8 tỉnh, thành phố trình Hội đồng nhân dân ban hành chính sách hỗ trợ đặc thù. Trong đó, 5 địa phương đã ban hành chính sách với mức hỗ trợ cụ thể, còn 3 địa phương đã thông qua nghị quyết nhưng chưa quy định mức hỗ trợ tài chính.

Đối với chính sách khen thưởng, hỗ trợ tập thể thực hiện tốt công tác duy trì mức sinh thay thế, nhiều địa phương đã đưa ra mức hỗ trợ đáng chú ý. TP.HCM dự kiến hỗ trợ từ 30 đến 60 triệu đồng; Đồng Tháp từ 30 đến 50 triệu đồng; Đồng Nai từ 20 đến 40 triệu đồng; riêng Tây Ninh có mức hỗ trợ từ 200 đến 300 triệu đồng.

Đối với chính sách hỗ trợ trực tiếp cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi, nhiều địa phương cũng đã quy định mức hỗ trợ cụ thể. TP.HCM hỗ trợ 5 triệu đồng; Hải Phòng hỗ trợ 3 triệu đồng; Tây Ninh hỗ trợ 2 triệu đồng; Đồng Nai và Đồng Tháp cùng hỗ trợ 1 triệu đồng.

Số liệu của Cục Thống kê năm 2024 cho thấy cứ 100 trẻ gái được sinh ra thì có tới 111,4 trẻ trai. Trong nhóm trẻ từ 0-14 tuổi, tỷ lệ cũng ở mức 109,7 bé trai trên 100 bé gái, phản ánh tình trạng chênh lệch giới tính đã kéo dài nhiều năm.
Đáng chú ý, một số địa phương ghi nhận mức mất cân bằng cao hơn đáng kể so với mức trung bình cả nước. Vùng đồng bằng sông Hồng có tỷ số giới tính khi sinh lên tới 113,2 bé trai trên 100 bé gái, trong khi khu vực Trung du và miền núi phía Bắc ở mức 115,3 bé trai trên 100 bé gái, thuộc nhóm cao nhất cả nước.

Tin liên quan
Tin khác