Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 24/10: Phát triển y tế chuyên sâu, đưa kỹ thuật hiện đại đến gần người bệnh
D.Ngân - 24/10/2026 08:08
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chuyển giao kỹ thuật chuyên sâu và kết nối các tuyến điều trị đang mở ra cơ hội nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại Hà Nội, giúp người dân tiếp cận y tế hiện đại, hạn chế chuyển viện không cần thiết.

Phát triển y tế chuyên sâu, đưa kỹ thuật hiện đại đến gần người bệnh

Dân số đông, tốc độ già hóa nhanh cùng sự gia tăng của các bệnh lý phức tạp đang tạo sức ép đối với hệ thống y tế Hà Nội. Những bệnh lý như tim mạch, ung thư, đái tháo đường và các biến chứng liên quan đòi hỏi phương pháp điều trị ngày càng chuyên sâu, sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên khoa cùng khả năng tiếp cận những tiến bộ y học hiện đại.

Trong bối cảnh đó, nâng cao năng lực điều trị tại các bệnh viện của Thủ đô, chủ động tiếp nhận công nghệ tiên tiến và xây dựng mạng lưới hợp tác chuyên môn được xác định là những hướng phát triển cần thiết. Giá trị của những hoạt động này được thể hiện qua khả năng làm chủ kỹ thuật, nâng cao chất lượng điều trị và tạo điều kiện để người bệnh được chăm sóc phù hợp, thuận tiện hơn.

Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội Trần Văn Chung và các đại biểu chứng kiến BVĐK Đức Giang và Bệnh viện Trung ương Saiseikai Tokyo ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác, tạo cơ sở thúc đẩy quan hệ hợp tác y tế giữa hai đơn vị.  Ảnh: Thuý Ninh

Tại Hội thảo khoa học quốc tế "Kết nối đa tuyến - Điều trị đa mô thức - Kiến tạo tương lai", do Bệnh viện Đa khoa Đức Giang tổ chức nhân kỷ niệm 63 năm thành lập bệnh viện, các chuyên gia trong nước và quốc tế đã trao đổi về những xu hướng điều trị hiện đại, ứng dụng công nghệ và phát triển hợp tác chuyên môn giữa các cơ sở y tế.

Phát biểu tại Hội thảo, PGS-TS.Đỗ Đình Tùng, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Đức Giang nhấn mạnh, sự phát triển bền vững của một bệnh viện cần có sự kết nối, hợp tác và chia sẻ tri thức. Hoạt động chuyên môn giữa các tuyến, giữa đội ngũ y tế trong nước với chuyên gia quốc tế, cũng như giữa cơ sở khám, chữa bệnh với gia đình người bệnh cần được duy trì thường xuyên để nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe.

Theo PGS-TS.Đỗ Đình Tùng, điều trị đa mô thức đang trở thành yêu cầu quan trọng của y học hiện đại, đặc biệt đối với các bệnh lý phức tạp cần kết hợp nhiều phương pháp và chuyên khoa. Việc lựa chọn phương án điều trị phù hợp phụ thuộc vào khả năng phối hợp chuyên môn, đánh giá toàn diện tình trạng người bệnh và tiếp cận những kỹ thuật tiên tiến.

Các chủ đề như cứu vãn bàn chân đái tháo đường, điều trị ung thư gan - mật - tụy và can thiệp động mạch được đưa ra thảo luận tại hội thảo phản ánh rõ yêu cầu này. Những bệnh lý trên thường có diễn biến phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của nhiều chuyên khoa để xác định phương án can thiệp, hạn chế biến chứng và cải thiện kết quả điều trị.

Đáng chú ý, hội thảo có sự tham gia của đoàn chuyên gia Bệnh viện Trung ương Saiseikai Tokyo (Nhật Bản), cùng các chuyên gia thuộc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Lão khoa Trung ương, Học viện Quân y và nhiều cơ sở đào tạo, điều trị khác.

Hoạt động trao đổi chuyên môn được triển khai gắn với thực hành lâm sàng. Trong phiên can thiệp nội mạch chiều 23/10, các chuyên gia Nhật Bản tham gia hội chẩn trực tiếp tại phòng can thiệp thông qua chương trình truyền hình trực tiếp, tạo điều kiện để đội ngũ bác sỹ trao đổi kinh nghiệm và tiếp cận phương pháp xử lý những tình huống chuyên môn cụ thể.

Hội thảo cũng đề cập những xu hướng đang được quan tâm trong y học hiện đại như sản phẩm thuốc trị liệu tiên tiến, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật trong chăm sóc người cao tuổi và phát triển các nền tảng y tế số kết nối cơ sở điều trị với gia đình.

Những nội dung này mở ra hướng tiếp cận rộng hơn đối với chăm sóc sức khỏe, trong đó việc theo dõi và quản lý người bệnh được chú trọng cả trong quá trình điều trị tại bệnh viện lẫn giai đoạn chăm sóc tại cộng đồng.

Ở góc độ quản lý, ông Trần Văn Chung, Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội cho biết, ngành y tế Thủ đô đang đứng trước yêu cầu tiếp tục nâng cao năng lực chuyên môn, chất lượng dịch vụ và khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.

Sự chuyển dịch mô hình bệnh tật, đặc biệt là các bệnh không lây nhiễm, tim mạch và ung thư, cùng tốc độ già hóa dân số đặt ra yêu cầu các cơ sở y tế phải phát triển kỹ thuật chuyên sâu, đổi mới phương thức điều trị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Theo lãnh đạo Sở Y tế Hà Nội, một trong những nhiệm vụ quan trọng là phát triển năng lực chuyên môn ngay tại các bệnh viện thuộc Thành phố, qua đó hạn chế chuyển tuyến không cần thiết và góp phần giảm tải cho các cơ sở khám, chữa bệnh tuyến Trung ương.

Để đạt mục tiêu này, hoạt động hợp tác quốc tế cần được triển khai thực chất, có lộ trình cụ thể và sản phẩm đầu ra có thể đánh giá. Các chương trình ký kết, trao đổi chuyên môn phải được chuyển hóa thành kết quả trong đào tạo nhân lực, chuyển giao kỹ thuật và triển khai những phương pháp điều trị phục vụ trực tiếp người bệnh.

Tại hội thảo, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang và Bệnh viện Trung ương Saiseikai Tokyo đã ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác, tạo cơ sở thúc đẩy trao đổi và phát triển quan hệ chuyên môn giữa hai đơn vị.

Ông Trần Văn Chung đề nghị các cơ sở y tế chú trọng xây dựng lộ trình hợp tác rõ ràng, ưu tiên tiếp nhận và làm chủ các kỹ thuật mũi nhọn, đồng thời phát huy vai trò hỗ trợ chuyên môn cho những đơn vị tuyến dưới. Mạng lưới hợp tác cần được mở rộng đến hệ thống y tế cơ sở, gắn hoạt động điều trị chuyên sâu với chăm sóc sức khỏe ban đầu và quản lý sức khỏe lâu dài.

Cùng với phát triển kỹ thuật, chuyển đổi số được xác định là một trong những giải pháp quan trọng để duy trì kết nối giữa bệnh viện, trạm y tế và gia đình người bệnh. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo cùng các nền tảng công nghệ cần được thực hiện có kiểm soát, bảo đảm an toàn, hiệu quả và phù hợp với nhu cầu thực tế.

Lãnh đạo Sở Y tế Hà Nội cũng nhấn mạnh yêu cầu kiên trì lấy người bệnh làm trung tâm, đặt chất lượng và an toàn điều trị lên hàng đầu. Phát triển kỹ thuật cao phải gắn với cải thiện chất lượng dịch vụ, nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ và duy trì các tiêu chuẩn chuyên môn đã đạt được.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường nghiên cứu khoa học và mở rộng liên kết giữa bệnh viện với các trường đại học y, đối tác quốc tế tiếp tục là những nhiệm vụ được ngành y tế Thủ đô quan tâm. Việc thực hiện Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 cũng cần được chú trọng trong quá trình nâng cao năng lực và tổ chức hoạt động của các cơ sở điều trị.

Theo ông Trần Văn Chung, ngành Y tế Hà Nội hoan nghênh các hoạt động hợp tác quốc tế thực chất, bình đẳng, cùng có lợi và mong muốn quan hệ hợp tác giữa Bệnh viện Đa khoa Đức Giang với Bệnh viện Trung ương Saiseikai Tokyo tiếp tục được củng cố, mở rộng, tạo điều kiện lan tỏa kinh nghiệm và kỹ thuật đến nhiều cơ sở y tế của Thành phố.

Đối với hệ thống y tế, phát triển chuyên sâu đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ vào con người, công nghệ và năng lực tổ chức điều trị. Thiết bị hiện đại tạo điều kiện triển khai những kỹ thuật phức tạp, song hiệu quả cuối cùng còn phụ thuộc vào trình độ đội ngũ bác sỹ, khả năng phối hợp liên chuyên khoa và chất lượng quy trình chăm sóc người bệnh.

Sự kết nối giữa các bệnh viện, cơ sở đào tạo và đối tác quốc tế có thể góp phần rút ngắn quá trình tiếp cận tiến bộ y học, nâng cao năng lực giải quyết những trường hợp khó và tạo điều kiện phát triển các kỹ thuật chuyên sâu ngay tại địa phương.

Đối với người bệnh, ý nghĩa thiết thực của quá trình này là được tiếp cận dịch vụ phù hợp với tình trạng sức khỏe, hạn chế những lần chuyển viện không cần thiết và có thêm cơ hội được điều trị bằng các phương pháp hiện đại ngay trong hệ thống y tế của Thủ đô.

Bộ Y tế nghiên cứu giảm thủ tục chuyển tuyến, mở rộng quyền lợi khám chữa bệnh

Trước phản ánh của cử tri về những bất tiện trong thủ tục chuyển tuyến,Thủ tục chuyển tuyến khám, chữa bệnh còn mất thời gian, gây bất tiện cho người dân, đặc biệt đối với những bệnh nhân phải điều trị dài ngày hoặc cần tiếp cận dịch vụ chuyên sâu. Trước thực tế này, cử tri đã kiến nghị Bộ Y tế xem xét đơn giản hóa các quy trình hành chính, tạo điều kiện để người bệnh được chuyển đến cơ sở điều trị phù hợp nhanh chóng hơn.

Phản hồi kiến nghị, Bộ Y tế cho biết đang tiếp tục đánh giá việc thực hiện các quy định hiện hành, đồng thời nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Thông tư số 01/2025/TT-BYT theo hướng giảm những khâu trung gian không cần thiết, mở rộng các trường hợp được chuyển trực tiếp đến cơ sở khám, chữa bệnh có đủ năng lực chuyên môn.

Theo Bộ Y tế, việc chuyển người bệnh giữa các cơ sở khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế hiện được thực hiện căn cứ vào yêu cầu chuyên môn, tình trạng sức khỏe và khả năng tiếp nhận, điều trị của từng cơ sở. Hệ thống khám, chữa bệnh được tổ chức theo ba cấp chuyên môn kỹ thuật, gồm cấp ban đầu, cấp cơ bản và cấp chuyên sâu, theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 và Nghị định số 96/2023/NĐ-CP.

Người bệnh có thể được chuyển giữa các cơ sở cùng cấp chuyên môn kỹ thuật hoặc chuyển từ cấp ban đầu lên cấp cơ bản, từ cấp cơ bản lên cấp chuyên sâu. Đối với những trường hợp vượt quá khả năng điều trị của cơ sở cấp cơ bản trên địa bàn tỉnh, người bệnh có thể được chuyển trực tiếp từ cấp ban đầu đến cấp chuyên sâu mà không phải qua cơ sở trung gian.

Việc phân cấp chuyên môn nhằm xác định rõ phạm vi hoạt động, năng lực điều trị của từng cơ sở, đồng thời tăng cường chuyển giao kỹ thuật, hội chẩn, khám chữa bệnh từ xa và hỗ trợ tuyến cơ sở nâng cao chất lượng dịch vụ, hạn chế tình trạng quá tải tại các bệnh viện chuyên sâu.

Đáng chú ý, Thông tư số 01/2025/TT-BYT đã quy định một số trường hợp người tham gia Bảo hiểm y tế được tiếp cận dịch vụ khám, chữa bệnh thuận lợi hơn mà không phải thực hiện đầy đủ thủ tục chuyển cơ sở như thông thường.

Cụ thể, người bệnh được chẩn đoán mắc một trong 62 bệnh, nhóm bệnh thuộc danh mục quy định có thể khám, chữa bệnh tại cơ sở cấp chuyên sâu mà không cần thủ tục chuyển cơ sở. Ngoài ra, 167 bệnh, nhóm bệnh được khám, chữa bệnh tại cơ sở cấp cơ bản không cần phiếu chuyển; 141 bệnh, nhóm bệnh và trường hợp được sử dụng phiếu chuyển có giá trị trong một năm.

Những quy định này tạo điều kiện giảm số lần xin giấy chuyển đối với một số nhóm người bệnh, đặc biệt là trường hợp cần theo dõi, điều trị thường xuyên theo chỉ định chuyên môn.

Tuy nhiên, Bộ Y tế cũng làm rõ, pháp luật hiện hành chưa cho phép mọi người tham gia Bảo hiểm y tế được tự lựa chọn bất kỳ cơ sở khám, chữa bệnh nào ở mọi cấp chuyên môn kỹ thuật mà vẫn được hưởng đầy đủ quyền lợi như trường hợp thực hiện đúng trình tự chuyển cơ sở.

Quy định về chuyển tuyến vẫn cần được duy trì để bảo đảm người bệnh được tiếp nhận tại cơ sở phù hợp với tình trạng sức khỏe, sử dụng hợp lý năng lực của hệ thống y tế và hạn chế quá tải tại các bệnh viện chuyên sâu.

Trên cơ sở đánh giá thực tiễn, Bộ Y tế đang nghiên cứu điều chỉnh quy định theo hướng linh hoạt hơn, giảm thủ tục hành chính nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu chuyên môn và khả năng cân đối của Quỹ Bảo hiểm y tế.

Một trong những giải pháp được chú trọng là đẩy mạnh sử dụng phiếu chuyển cơ sở khám, chữa bệnh điện tử, phiếu hẹn khám lại điện tử và hồ sơ bệnh án điện tử, đồng thời tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở y tế.

Việc liên thông thông tin khám, chữa bệnh được kỳ vọng giúp người bệnh giảm thời gian thực hiện thủ tục giấy tờ, hạn chế phải cung cấp lại những hồ sơ đã có trong hệ thống, đồng thời hỗ trợ bác sỹ tiếp cận đầy đủ thông tin điều trị trước đó để đưa ra quyết định chuyên môn phù hợp.

Đối với các cơ sở khám, chữa bệnh, dữ liệu điện tử cũng tạo điều kiện quản lý quá trình chuyển tuyến, theo dõi lịch sử điều trị và phối hợp giữa các cấp chuyên môn, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực y tế.

Tuy nhiên, hiệu quả của những giải pháp này phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện hạ tầng công nghệ, khả năng liên thông dữ liệu và việc triển khai thống nhất giữa các bệnh viện, cơ sở y tế.

Việc đơn giản hóa thủ tục chuyển tuyến vì vậy cần được thực hiện song song với nâng cao năng lực khám, chữa bệnh tại cơ sở, hoàn thiện cơ chế phối hợp chuyên môn và bảo đảm quyền lợi Bảo hiểm y tế của người bệnh.

Đầu tư cho phòng bệnh, thay đổi tương lai chăm sóc sức khỏe

Sự phát triển của y học hiện đại giúp nâng cao khả năng chẩn đoán, điều trị nhiều bệnh lý phức tạp, song những thách thức đối với sức khỏe cộng đồng cũng ngày càng đa dạng. Bệnh truyền nhiễm mới nổi, tình trạng kháng thuốc, tốc độ già hóa dân số và sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm đang đòi hỏi hệ thống y tế phải có khả năng nhận diện nguy cơ, can thiệp sớm và quản lý sức khỏe lâu dài.

Đầu tư cho y tế dự phòng vì vậy mang ý nghĩa rộng hơn hoạt động phòng, chống dịch bệnh. Đây còn là giải pháp giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh, hạn chế tổn thất do bệnh tật và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Tại Hội nghị Khoa học Y học dự phòng năm 2026, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên nhấn mạnh yêu cầu đưa công tác phòng bệnh trở thành trọng tâm của hệ thống y tế, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ để nâng cao năng lực bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Theo Thứ trưởng, quan điểm coi trọng y tế dự phòng đã được khẳng định xuyên suốt trong các chủ trương phát triển ngành y tế. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII xác định phương châm "Phòng bệnh hơn chữa bệnh", coi y tế dự phòng là then chốt, y tế cơ sở là nền tảng.

Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị tiếp tục đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy tập trung vào khám, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe toàn diện, sớm và ngay tại cơ sở.

Sự thay đổi này hướng tới quản lý sức khỏe người dân một cách liên tục, phát hiện và kiểm soát nguy cơ trước khi bệnh tiến triển nặng, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Cùng với định hướng chính sách, Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, tạo cơ sở pháp lý toàn diện hơn cho hoạt động dự phòng.

Luật thể hiện phương châm dự phòng bốn cấp, bao gồm ngăn ngừa các yếu tố nguy cơ, phòng mắc bệnh, hạn chế bệnh tiến triển nặng và giảm thiểu tàn tật, phục hồi chức năng. Việc triển khai đồng bộ các cấp độ dự phòng được kỳ vọng góp phần giảm gánh nặng điều trị, hạn chế những ảnh hưởng lâu dài của bệnh tật đối với người dân và xã hội.

Đáng chú ý, Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên nhấn mạnh yêu cầu hiện đại hóa y học dự phòng thông qua ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, giải trình tự gen, hệ thống giám sát thời gian thực và các công cụ phân tích hiện đại.

Những tiến bộ này có thể hỗ trợ nâng cao năng lực giám sát dịch tễ, phát hiện sớm dấu hiệu bất thường, đánh giá nguy cơ và dự báo diễn biến bệnh tật. Đây cũng là những công cụ quan trọng để hệ thống y tế chủ động ứng phó với dịch bệnh mới nổi, kháng thuốc và những thay đổi về mô hình bệnh tật do già hóa dân số.

Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy giá trị khi được ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn. Việc hiện đại hóa y tế dự phòng cần gắn với nâng cao năng lực của hệ thống y tế cơ sở, bảo đảm thông tin sức khỏe được kết nối, chia sẻ và sử dụng phục vụ công tác chuyên môn.

Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh bốn định hướng quan trọng, gồm đưa phòng bệnh trở thành trọng tâm của hệ thống y tế; hiện đại hóa y tế dự phòng trên nền tảng khoa học, dữ liệu và công nghệ; gắn kết nghiên cứu khoa học với xây dựng chính sách, tạo ra những thay đổi thiết thực đối với sức khỏe người dân; đồng thời phát huy vai trò kết nối chuyên môn của Hội Y học Dự phòng Việt Nam.

Trong đó, công tác truyền thông, đặc biệt là truyền thông số, được xác định có vai trò quan trọng trong nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi và khuyến khích người dân chủ động bảo vệ sức khỏe.

Các phiên thảo luận tập trung vào chính sách phát triển hệ thống y tế dự phòng, năng lực sẵn sàng ứng phó với tình huống khẩn cấp về y tế công cộng, ứng dụng công nghệ trong phòng bệnh truyền nhiễm, tiêm chủng, kiểm soát bệnh mới nổi, bệnh do ký sinh trùng, véc tơ truyền bệnh và các bệnh không lây nhiễm.

Những vấn đề liên quan đến dinh dưỡng, môi trường, sức khỏe tâm thần, người cao tuổi, dữ liệu y tế và biến đổi khí hậu cũng được đưa ra trao đổi, phản ánh phạm vi ngày càng rộng của công tác y học dự phòng trước những biến đổi về dân số, môi trường sống và mô hình bệnh tật.

Các nội dung thảo luận cho thấy yêu cầu phát triển y tế dự phòng hiện nay cần được giải quyết đồng bộ trên nhiều phương diện, bao gồm năng lực chuyên môn, hệ thống giám sát, nguồn nhân lực, chuyển đổi số và khả năng triển khai các biện pháp phòng bệnh trong cộng đồng.

Ở góc độ phát triển hệ thống y tế, đầu tư cho dự phòng có ý nghĩa quan trọng đối với việc sử dụng hiệu quả nguồn lực. Phát hiện sớm và kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ có thể góp phần hạn chế số người mắc bệnh, giảm những trường hợp phải điều trị kéo dài hoặc can thiệp ở giai đoạn nặng, qua đó giảm áp lực đối với các cơ sở khám, chữa bệnh.

Để đạt được mục tiêu này, các kết quả nghiên cứu cần được chuyển hóa thành chương trình, chính sách và giải pháp phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, hệ thống y tế cơ sở phải có đủ năng lực thực hiện các hoạt động dự phòng, quản lý sức khỏe và hướng dẫn người dân tiếp cận dịch vụ phù hợp.

Tin liên quan
Tin khác