Y tế - Sức khỏe
Tin mới y tế ngày 7/9: Mở rộng trợ giúp xã hội cho người mắc bệnh hiểm nghèo
D.Ngân - 07/09/2026 11:00
Chi phí điều trị ung thư, suy thận và nhiều bệnh hiểm nghèo có thể kéo dài nhiều năm, tạo gánh nặng lớn đối với người bệnh và gia đình.

Mở rộng trợ giúp xã hội cho người mắc bệnh hiểm nghèo

Điều trị ung thư, suy thận và nhiều bệnh hiểm nghèo thường không phải một khoản chi phí phát sinh trong thời gian ngắn. Người bệnh có thể phải trải qua phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, lọc máu, sử dụng thuốc hoặc theo dõi kéo dài, cùng với những khoản chi ngoài phạm vi được thanh toán. Gánh nặng còn lớn hơn nếu sức khỏe suy giảm khiến người bệnh phải nghỉ việc, giảm thu nhập hoặc cần người thân dành thời gian chăm sóc.

Từ thực tế này, cử tri TP.Đà Nẵng kiến nghị nghiên cứu mở rộng đối tượng và điều kiện hưởng trợ cấp đối với người mắc ung thư, suy thận và các bệnh hiểm nghèo khác, đồng thời xây dựng hình thức hỗ trợ phù hợp với mức độ bệnh, thời gian điều trị và hoàn cảnh kinh tế.

Chi phí điều trị ung thư, suy thận và nhiều bệnh hiểm nghèo có thể kéo dài nhiều năm, tạo gánh nặng lớn đối với người bệnh và gia đình. 

Cử tri phản ánh chính sách hiện nay được hiểu là người mắc một số bệnh hiểm nghèo như ung thư, suy thận phải ở giai đoạn cuối mới đủ điều kiện hưởng trợ cấp hằng tháng. Trong lúc đó, chi phí điều trị có thể phát sinh rất lớn từ những giai đoạn trước, đặc biệt với hộ nghèo, cận nghèo và người lao động có thu nhập thấp.

Từ góc độ người bệnh, hỗ trợ được tiếp cận sớm hơn có thể giúp giảm áp lực tài chính trong giai đoạn điều trị kéo dài. Bởi vậy, cử tri đề nghị không quy định cứng điều kiện hưởng trợ cấp theo giai đoạn bệnh, nghiên cứu chính sách trợ cấp hằng tháng hoặc hỗ trợ chi phí điều trị căn cứ mức độ bệnh, thời gian điều trị và khả năng kinh tế của từng trường hợp, đồng thời có hướng dẫn thống nhất để các địa phương thực hiện công bằng, kịp thời.

Phản hồi kiến nghị, Bộ Y tế làm rõ một điểm quan trọng, quy định hiện hành không đặt ra điều kiện người mắc ung thư, suy thận phải ở giai đoạn cuối mới được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.

Cụ thể, Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và các văn bản hướng dẫn liên quan không quy định chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng riêng cho người mắc bệnh hiểm nghèo như ung thư, suy thận. Do không có chế độ riêng căn cứ vào tên bệnh nên quy định cũng không xác định người bệnh phải ở giai đoạn cuối, hay giai đoạn 4, mới được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.

Điều kiện hưởng trợ cấp hiện được xác định theo một cơ chế khác. Căn cứ Luật Người khuyết tật và khoản 6 Điều 5 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, người khuyết tật nặng và người khuyết tật đặc biệt nặng thuộc diện được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng. Người mắc ung thư, suy thận hoặc bệnh hiểm nghèo khác nếu được Hội đồng xác định mức độ khuyết tật kết luận thuộc một trong hai nhóm này sẽ được hưởng trợ cấp theo quy định.

Như vậy, điểm mấu chốt không nằm ở việc người bệnh đang ở giai đoạn mấy, mà ở mức độ khuyết tật được cơ quan có thẩm quyền xác định. Một người mắc bệnh hiểm nghèo không mặc nhiên được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng chỉ dựa trên chẩn đoán bệnh, nhưng cũng không phải chờ bệnh tiến triển đến giai đoạn cuối mới có thể được xem xét.

Cơ chế hiện hành còn dành một khoảng linh hoạt cho địa phương. Điều 2 Nghị định số 76/2024/NĐ-CP ngày 1/7/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định, căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách, UBND cấp tỉnh có thể trình HĐND cùng cấp quyết định hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn khác chưa được quy định tại nghị định.

Quy định này tạo cơ sở để HĐND cấp tỉnh xem xét chính sách hỗ trợ đối với người mắc ung thư, suy thận và những bệnh hiểm nghèo khác trên địa bàn, tùy điều kiện ngân sách và tình hình thực tế. Tuy nhiên, khả năng chủ động của từng địa phương cũng đặt ra vấn đề về mức độ đồng đều trong tiếp cận chính sách, nhất là giữa những địa bàn có nguồn lực ngân sách khác nhau.

Chuẩn hóa y tế để nâng chất lượng và bảo vệ người dân

Năm 2026, xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tiếp tục được Bộ Y tế xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm hoàn thiện thể chế và nâng hiệu quả quản lý chất lượng. Yêu cầu đặt ra không đơn thuần là bổ sung những quy định còn thiếu, mà phải rà soát cả hệ thống hiện hành để những tiêu chuẩn đã ban hành theo kịp thực tiễn, tiến bộ khoa học kỹ thuật và phương thức quản lý mới.

Tại cuộc họp về công tác xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực y tế năm 2026, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan yêu cầu các đơn vị rà soát, thống kê và xây dựng kế hoạch đối với hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn thuộc phạm vi quản lý, đồng thời bảo đảm quá trình xây dựng, ban hành thống nhất với những quy định pháp luật mới.

Yêu cầu này trở nên cấp thiết trong bối cảnh thị trường sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ y tế thay đổi nhanh, nhiều công nghệ, nguyên liệu, phương thức sản xuất mới liên tục xuất hiện. Một tiêu chuẩn được xây dựng nhiều năm trước có thể không còn bao quát đầy đủ những rủi ro mới, trong lúc khoảng trống về quy chuẩn có thể khiến cơ quan quản lý thiếu căn cứ kỹ thuật để đánh giá chất lượng, doanh nghiệp khó xác định yêu cầu phải tuân thủ và người sử dụng khó được bảo vệ đầy đủ.

Còn Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức nhấn mạnh, xây dựng và công bố hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, đặc biệt đối với sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ y tế, là nhiệm vụ cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng, an toàn, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành và hội nhập quốc tế.

Điểm đáng chú ý trong hướng quản lý mới là tiêu chuẩn, quy chuẩn được gắn chặt hơn với mức độ rủi ro. Thay vì áp dụng một cách quản lý tương tự cho tất cả sản phẩm, các biện pháp kiểm soát có thể được xác định phù hợp với từng nhóm dựa trên nguy cơ đối với sức khỏe. Cách tiếp cận này đòi hỏi hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật đủ đầy, cập nhật và có khả năng phân định rõ những yêu cầu về chất lượng, an toàn đối với từng nhóm sản phẩm, dịch vụ.

Đối với y tế, yêu cầu ấy đặc biệt quan trọng bởi một sai lệch về chất lượng có thể tác động trực tiếp đến sức khỏe con người. Thuốc không đạt hàm lượng, dược liệu không kiểm soát nguồn gốc, thực phẩm chứa chất ô nhiễm vượt giới hạn hay môi trường lao động có nồng độ hóa chất không bảo đảm đều có thể dẫn tới những hậu quả vượt xa một vi phạm thương mại thông thường.

Bởi vậy, tiêu chuẩn và quy chuẩn cần được hình thành từ toàn bộ vòng đời của sản phẩm, từ sản xuất, kiểm nghiệm, lưu thông đến sử dụng, đồng thời cập nhật theo sự phát triển của khoa học và những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn quản lý.

Một thách thức khác là mức độ tương thích giữa tiêu chuẩn trong nước và quốc tế. Bộ Y tế đánh giá hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của ngành đã có sự tham chiếu, hài hòa với nhiều tiêu chuẩn quốc tế, song tỷ lệ hài hòa ở một số lĩnh vực vẫn còn hạn chế. Khoảng cách giữa yêu cầu trong nước và chuẩn mực quốc tế cũng trở nên rõ hơn cùng quá trình hội nhập và phát triển của thị trường.

Bộ Y tế yêu cầu các đơn vị tăng cường tham vấn chuyên gia, hiệp hội, đơn vị trực tiếp thực hiện và nghiên cứu những tiêu chuẩn quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam. Việc hài hòa không có nghĩa sao chép nguyên trạng một tiêu chuẩn bên ngoài, mà cần lựa chọn những yêu cầu phù hợp với điều kiện sản xuất, năng lực kiểm nghiệm, mô hình bệnh tật và thực tế quản lý trong nước.

Khám sức khỏe toàn dân để chuyển từ chữa bệnh sang quản lý sức khỏe

Từ ngày 25/5 đến 6/9/2026, TP.HCM đã tổ chức khám sức khỏe cho 4.009.583 người, vượt mốc 4 triệu người chỉ sau hơn 3 tháng triển khai. Với một đô thị có quy mô dân số thuộc kế hoạch lên tới 12.774.459 người, kết quả này tương đương 31%, đồng nghĩa gần 9 triệu người vẫn cần tiếp tục được tiếp cận, khám và sàng lọc.

Hơn 4 triệu lượt khám trong thời gian ngắn phản ánh quy mô huy động lớn của hệ thống y tế thành phố. Chính quyền các phường, xã, đặc khu rà soát dân cư, vận động người dân tham gia và bố trí địa điểm phù hợp; các bệnh viện công lập, ngoài công lập, phòng khám hỗ trợ nhân lực, chuyên môn, trang thiết bị; trạm y tế vừa duy trì hoạt động thường xuyên, vừa tổ chức khám, sàng lọc và cập nhật dữ liệu sức khỏe.

Nhưng nếu chỉ nhìn chương trình qua số người đã được khám, giá trị của một kế hoạch sức khỏe toàn dân chưa được phản ánh đầy đủ. Phía sau mỗi lượt khám là một tập hợp thông tin có thể giúp nhận diện sớm nguy cơ tăng huyết áp, đái tháo đường và nhiều bệnh lý khác, đồng thời tạo cơ sở để ngành y tế biết cộng đồng đang đối mặt với những vấn đề sức khỏe nào, nhóm dân cư nào cần được theo dõi sát hơn và nguồn lực y tế nên được ưu tiên ra sao.

Chính sự dịch chuyển từ "khám được bao nhiêu người" sang "sức khỏe của người được khám sẽ được quản lý thế nào" mới quyết định giá trị lâu dài của chương trình.

Sở Y tế TP.HCM xác định mỗi người dân tham gia khám sức khỏe cũng góp phần hình thành dữ liệu sức khỏe cộng đồng đầy đủ hơn, phục vụ quản lý và chăm sóc lâu dài. Cách tổ chức này tạo cơ hội để y tế cơ sở chuyển dần từ mô hình chủ yếu tiếp nhận người đã có bệnh sang chủ động nhận diện nguy cơ, theo dõi sức khỏe và can thiệp sớm.

Vai trò của trạm y tế trở nên đặc biệt quan trọng trong quá trình ấy. Sau một đợt khám quy mô lớn, những trường hợp phát hiện bất thường cần được phân loại, tư vấn, chuyển đến cơ sở phù hợp hoặc tiếp tục quản lý tại cộng đồng. Người có chỉ số huyết áp, đường huyết bất thường hay nguy cơ mắc bệnh mạn tính cần một quá trình theo dõi tiếp nối, thay vì kết thúc bằng một phiếu kết quả.

Với gần 9 triệu người chưa được khám, áp lực đối với hệ thống trong giai đoạn tiếp theo vẫn rất lớn. Nếu duy trì mục tiêu bao phủ toàn bộ nhóm dân số trong kế hoạch, thành phố cần tiếp tục huy động đồng thời y tế cơ sở, bệnh viện, phòng khám và các nguồn lực xã hội, đồng thời tổ chức lịch khám phù hợp với từng nhóm dân cư để tăng khả năng tiếp cận.

Quy mô dân số lớn cũng khiến cách tổ chức không thể hoàn toàn giống nhau giữa các địa bàn. Khu vực đông dân, địa bàn có nhiều người lao động, người cao tuổi hoặc nhóm khó tiếp cận cần phương án khác nhau về thời gian, địa điểm và cách vận động. Việc đưa hoạt động khám tới gần cộng đồng có thể giúp giảm một trong những rào cản phổ biến của khám sức khỏe định kỳ là người dân phải chủ động dành thời gian tìm đến cơ sở y tế dù chưa cảm thấy mình có bệnh.

Ở chiều ngược lại, sự tham gia của người dân quyết định trực tiếp tới mức độ bao phủ. Khám sức khỏe lúc cơ thể chưa xuất hiện triệu chứng vẫn chưa trở thành thói quen của một bộ phận dân cư. Nhiều bệnh mạn tính có thể tồn tại trong thời gian dài mà biểu hiện chưa rõ, khiến người bệnh chỉ tìm đến cơ sở y tế sau lúc sức khỏe đã bị ảnh hưởng đáng kể. Khám và sàng lọc tại cộng đồng tạo thêm cơ hội nhận diện những nguy cơ này sớm hơn.

Tuy nhiên, số lượng người được khám tăng nhanh cũng đặt ra yêu cầu tương ứng đối với chất lượng dữ liệu. Thông tin thu được cần chính xác, được cập nhật đầy đủ, hạn chế trùng lặp và có khả năng liên thông để phục vụ quá trình chăm sóc tiếp theo. Nếu hàng triệu kết quả khám tồn tại rời rạc hoặc khó sử dụng lại, nguồn dữ liệu lớn sẽ khó chuyển thành lợi ích thực tế cho người dân.

Vấn đề tiếp theo còn nằm ở khả năng kết nối giữa dữ liệu và dịch vụ y tế. Một người được phát hiện có nguy cơ bệnh mạn tính cần biết mình phải làm gì tiếp theo; trạm y tế cần có thông tin để tiếp tục quản lý; bệnh viện cần tiếp cận được những dữ liệu cần thiết nếu người bệnh được chuyển lên tuyến chuyên sâu. Chuỗi chăm sóc chỉ thực sự liền mạch nếu kết quả của lần khám đầu tiên có thể đi cùng người dân trong những lần tiếp cận hệ thống y tế sau đó.

Tin liên quan
Tin khác