Việc tầm soát định kỳ và tiêm phòng viêm gan B được xem là biện pháp quan trọng nhất để giảm nguy cơ mắc bệnh. Ung thư gan là căn bệnh nguy hiểm, phát triển âm thầm và thường không có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu.
| Kháng thể viêm gan B giảm dần theo thời gian, vì vậy người đã tiêm đủ vắc-xin nhưng có yếu tố nguy cơ cần thăm khám định kỳ, xét nghiệm kháng thể và tiêm nhắc lại khi cần thiết. |
Theo bác sỹ Huỳnh Văn Trung, chuyên khoa ung bướu, phần lớn các trường hợp ung thư gan tại Việt Nam được phát hiện muộn. Nguyên nhân là viêm gan B tiến triển thầm lặng, người mắc vẫn cảm thấy khỏe mạnh ngay cả khi đã có xơ gan hoặc khối u nhỏ, dẫn đến chủ quan và không đi khám.
Nhiều trường hợp chỉ phát hiện bệnh khi đã tiến triển thành ung thư gan, thậm chí có người chưa bị xơ gan nhưng vẫn xuất hiện u gan.
Siêu âm, phương tiện thường dùng để sàng lọc khó phát hiện các khối u có kích thước dưới 3 cm, nên bác sỹ thường kết hợp các xét nghiệm cận lâm sàng và hình ảnh chuyên sâu như xét nghiệm AFP, AFP-L3, DCP, chụp CT, MRI hay sinh thiết gan để chẩn đoán chính xác.
Tuy nhiên, chi phí các phương pháp này tương đối cao, chưa được khuyến cáo sử dụng rộng rãi trong cộng đồng. Ở giai đoạn sớm, khối u gan nhỏ, chưa xâm lấn mạch máu hay các cơ quan lân cận, nên không gây đau, khó nhận ra bất thường.
Khám lâm sàng bằng tay cũng khó phát hiện, đặc biệt ở người thừa cân vì gan nằm sâu dưới xương sườn phải. Các triệu chứng mơ hồ như mệt mỏi, chán ăn, đầy bụng hay sút cân dễ bị nhầm với rối loạn tiêu hóa thông thường.
Với người viêm gan B hoặc C, những dấu hiệu này càng khó phân biệt, dẫn đến việc bỏ sót cho đến khi bệnh tiến triển nặng, lúc khối u đã chèn ép đường mật hoặc bao gan, biểu hiện lâm sàng rõ rệt hơn.
Phát hiện muộn ung thư gan đồng nghĩa với hiệu quả điều trị thấp hơn, phẫu thuật trở nên phức tạp và khó loại bỏ hoàn toàn khối u. Các phương pháp hỗ trợ như hóa trị, xạ trị hay điều trị miễn dịch cũng giảm hiệu quả, đồng thời chi phí điều trị tăng cao.
Để phát hiện sớm và phòng ngừa ung thư gan, bác sỹ Trung khuyến cáo tầm soát định kỳ, đặc biệt với nhóm nguy cơ cao như người mắc viêm gan B, viêm gan C, uống nhiều rượu hoặc có tiền sử gia đình.
Người chưa mắc bệnh nên kiểm tra mỗi 6 tháng, người có nguy cơ cao như xơ gan nên sàng lọc 3 tháng/lần. Phụ nữ mang thai cần khám định kỳ, xét nghiệm viêm gan B và đảm bảo trẻ sơ sinh được tiêm vắc-xin viêm gan B ngay sau khi chào đời.
Các phương pháp tầm soát gồm xét nghiệm chức năng gan, chỉ số AFP kết hợp siêu âm gan. Trường hợp nghi ngờ, bác sỹ có thể chỉ định thêm CT hoặc MRI để chẩn đoán chính xác.
Ngoài ra, việc tiêm vắc-xin viêm gan B, điều trị viêm gan virus, hạn chế rượu bia, duy trì cân nặng hợp lý và chế độ ăn lành mạnh cũng góp phần giảm nguy cơ ung thư gan.
Bác sỹ Bạch Thị Chính, Giám đốc Y khoa Hệ thống Tiêm chủng VNVC cho biết, vắc-xin viêm gan B được xem là “vắc-xin ngừa ung thư” đầu tiên, vì ngăn chặn tác nhân hàng đầu gây ung thư gan.
Nghiên cứu 37 năm tại Trung Quốc cho thấy vắc-xin giảm 72% nguy cơ ung thư gan, giảm 70% tử vong do ung thư gan và 64% tử vong liên quan bệnh gan. Trẻ sơ sinh tiêm mũi đầu trong 24 giờ sau sinh có thể ngăn lây truyền từ mẹ sang con 85-95%.
Đối với trẻ chưa tiêm, không có kháng thể hoặc kháng thể không đủ bảo vệ, cần tiêm đủ 3 mũi trong 6 tháng, nhóm nguy cơ cao có thể tiêm 4 mũi.
Kháng thể viêm gan B giảm dần theo thời gian, vì vậy người đã tiêm đủ vắc-xin nhưng có yếu tố nguy cơ cần thăm khám định kỳ, xét nghiệm kháng thể và tiêm nhắc lại khi cần thiết.
Các nhóm có đặc thù công việc tiếp xúc máu, người chạy thận, người chăm sóc bệnh nhân viêm gan B mạn tính hoặc có hành vi tình dục nguy cơ cao, cần tiêm phòng đầy đủ để bảo vệ sức khỏe.