| Hậu kiểm an toàn thực phẩm hướng tới quản lý rủi ro bằng dữ liệu số (Ảnh: P.V) |
Cách tiếp cận mới được kỳ vọng tạo bước chuyển từ quản lý bị động sang phòng ngừa chủ động, nâng cao hiệu quả bảo vệ sức khỏe người dân.
Dữ liệu số là nền tảng của quản trị hiện đại
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng thực phẩm ngày càng mở rộng, thương mại điện tử phát triển nhanh và các mô hình kinh doanh thực phẩm ngày càng đa dạng, phương thức quản lý an toàn thực phẩm truyền thống đang bộc lộ nhiều hạn chế. Thay vì kiểm soát theo từng công đoạn riêng lẻ, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) hướng tới xây dựng mô hình quản lý hiện đại dựa trên đánh giá nguy cơ, dữ liệu số và kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng.
Thông tin tại Hội thảo góp ý dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cho biết, Dự thảo tập trung vào bốn nhóm chính sách trọng tâm nhằm đổi mới toàn diện công tác quản lý an toàn thực phẩm. Trong đó, nổi bật là chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm; đẩy mạnh chuyển đổi số; xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về an toàn thực phẩm có tính liên thông giữa các bộ, ngành và địa phương; đồng thời quản lý thực phẩm dựa trên kiểm soát nguy cơ trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Nhấn mạnh thêm nội dung này, TS. Chu Quốc Thịnh, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cho biết, toàn bộ nội dung sửa đổi lần này đều hướng đến xây dựng phương thức quản lý hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn. Trọng tâm của dự thảo là quản lý theo chuỗi nguy cơ, cải cách phương thức kiểm tra, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về an toàn thực phẩm và tăng cường quản lý đối với thức ăn đường phố, suất ăn tập thể.
Theo dự thảo luật, phương thức hậu kiểm sẽ được đổi mới theo hướng thông minh hơn. Thay vì kiểm tra theo cách truyền thống, cơ quan quản lý sẽ xây dựng cơ chế hậu kiểm dựa trên dữ liệu số và
phân tích nguy cơ.
Các hình thức hậu kiểm được quy định gồm hậu kiểm theo kế hoạch và hậu kiểm đột xuất, đồng thời làm rõ nội dung, phương thức thực hiện và trách nhiệm của các cơ quan quản lý. Đặc biệt, dữ liệu sẽ được sử dụng để xác định nhóm sản phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh hoặc khu vực có nguy cơ cao nhằm tập trung nguồn lực kiểm tra, thay vì kiểm tra dàn trải như trước.
“Đây là một trong những điểm đột phá của dự thảo luật, giúp chuyển từ xử lý khi sự cố đã xảy ra sang chủ động phòng ngừa rủi ro ngay từ sớm thông qua phân tích dữ liệu và cảnh báo nguy cơ”, lãnh đạo Cục An toàn thực phẩm nhấn mạnh.
Hướng tới hệ sinh thái quản lý minh bạch
Các chuyên gia nhận định, chuyển đổi số sẽ quyết định hiệu quả của mô hình hậu kiểm mới. Hệ thống dữ liệu quốc gia về an toàn thực phẩm được định hướng số hóa toàn bộ vòng đời sản phẩm, phục vụ truy xuất nguồn gốc, cảnh báo nguy cơ, xử lý vi phạm và kết nối dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương.
Bà Phạm Khánh Phong Lan, Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TP.HCM đánh giá cao định hướng chuyển từ quản lý theo vụ việc sang quản lý theo nguy cơ và theo chuỗi. Tuy nhiên, theo bà, mô hình này chỉ phát huy hiệu quả khi có một đầu mối quản lý thống nhất từ
Trung ương đến địa phương.
Bà cũng nhấn mạnh, nếu xác định hậu kiểm giữ vai trò quan trọng hơn tiền kiểm thì dự thảo luật cần có các quy định đủ mạnh để tăng cường hoạt động hậu kiểm, đồng thời tiếp tục cắt giảm những thủ tục hành chính không còn phù hợp ở khâu tiền kiểm.
Đại diện Sở Y tế Hà Nội cũng thống nhất với chủ trương chuyển mạnh sang hậu kiểm, đồng thời đề nghị quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong công tác giám sát sau cấp phép.
Trong khi đó, ông Nguyễn Minh Tuấn, Phó giám đốc Sở Y tế Quảng Ninh kiến nghị Dự thảo luật cần bổ sung các quy định cụ thể về xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, tăng cường kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhằm phục vụ hiệu quả hoạt động giám sát, truy xuất nguồn gốc và cảnh báo nguy cơ mất an toàn thực phẩm.
Theo GS-TS. Phan Thị Kim, nguyên Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, nguyên Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn thực phẩm Việt Nam, quản lý an toàn thực phẩm cần chuyển từ cách tiếp cận theo từng công đoạn sang kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng và dựa trên đánh giá nguy cơ. Đây là xu hướng mà nhiều quốc gia đang áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Theo Cục An toàn thực phẩm, trong bối cảnh nguy cơ mất an toàn thực phẩm ngày càng đa dạng, công tác quản lý không thể tiếp tục dựa trên phương thức truyền thống mà cần chuyển từ quản lý từng khâu riêng lẻ sang quản trị toàn bộ chuỗi cung ứng; từ xử lý bị động sang phòng ngừa chủ động; từ quyết định dựa trên kinh nghiệm sang quản lý dựa trên dữ liệu, phân tích nguy cơ và cảnh báo sớm.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số vẫn còn nhiều thách thức như hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ, dữ liệu phân tán, tiêu chuẩn kết nối chưa thống nhất, yêu cầu bảo mật ngày càng cao và năng lực số của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế. Vì vậy, cùng với việc hoàn thiện hành lang pháp lý, cần xây dựng chuẩn dữ liệu, tăng cường kết nối và chia sẻ dữ liệu, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và Blockchain trong truy xuất nguồn gốc, giám sát chất lượng và phân tích nguy cơ.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần sự tham gia đồng bộ của cơ quan quản lý, các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và người dân trong xây dựng, chia sẻ và khai thác dữ liệu. Việt Nam được kỳ vọng sẽ từng bước hình thành hệ sinh thái quản trị an toàn thực phẩm hiện đại, minh bạch, dựa trên dữ liệu và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.