Đề xuất mở rộng diện hưởng trợ cấp hưu trí xã hội từ tuổi 70
Bộ Y tế vừa có văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Tây Ninh về việc điều chỉnh chính sách trợ cấp hưu trí xã hội theo hướng mở rộng đối tượng thụ hưởng và tăng mức hỗ trợ hằng tháng, nhằm cải thiện đời sống cho người cao tuổi, đặc biệt là những người không có lương hưu.
Theo kiến nghị, cử tri đề xuất nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội, giảm độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội từ đủ 75 xuống đủ 70 tuổi, đồng thời nâng mức trợ cấp từ 500.000 đồng lên 1 triệu đồng/người/tháng.
| Việc tiếp tục hoàn thiện chính sách trong thời gian tới được kỳ vọng góp phần cải thiện đời sống người cao tuổi, tăng mức độ bảo vệ đối với những người không có lương hưu, đồng thời củng cố hệ thống an sinh xã hội trước những yêu cầu đặt ra từ quá trình già hóa dân số. |
Cử tri cho rằng nhiều người từ 70 tuổi trở lên đã suy giảm sức khỏe, khả năng lao động hạn chế, khó duy trì nguồn thu nhập ổn định để tự bảo đảm cuộc sống. Trong khi đó, chi phí sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh ngày càng tăng, khiến không ít người cao tuổi gặp khó khăn về kinh tế.
Mức trợ cấp 500.000 đồng/tháng hiện nay được cử tri đánh giá còn thấp so với nhu cầu sinh hoạt thiết yếu. Vì vậy, việc nghiên cứu giảm độ tuổi và nâng mức hỗ trợ được kỳ vọng góp phần cải thiện điều kiện sống, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và củng cố hệ thống an sinh xã hội đối với người cao tuổi.
Bên cạnh kiến nghị chung, cử tri tỉnh Tây Ninh còn đề xuất xem xét giảm độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội đối với cựu chiến binh từ 75 xuống 60 tuổi. Theo cử tri, chính sách ưu tiên này sẽ thể hiện sự quan tâm, tri ân đối với những người từng tham gia phục vụ, cống hiến cho đất nước, đồng thời hỗ trợ bảo đảm đời sống khi tuổi cao, sức khỏe suy giảm.
Trả lời các kiến nghị, Bộ Y tế cho biết chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi đã nhiều lần được điều chỉnh theo hướng giảm dần độ tuổi thụ hưởng, mở rộng đối tượng và nâng cao mức độ bảo vệ của hệ thống an sinh.
Cụ thể, Nghị định số 30/2002/NĐ-CP ngày 26/3/2002 quy định người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên được hưởng trợ cấp xã hội. Đến năm 2007, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP giảm độ tuổi xuống 85 tuổi.
Năm 2011, Chính phủ tiếp tục điều chỉnh chính sách, quy định người từ đủ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp xã hội của Nhà nước được hưởng trợ cấp xã hội.
Đến năm 2021, Nghị định số 20/2021/NĐ-CP mở rộng đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng đối với người từ đủ 75 đến dưới 80 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và sinh sống tại xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi đặc biệt khó khăn.
Bước điều chỉnh đáng chú ý gần đây là Nghị định số 176/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về trợ cấp hưu trí xã hội, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025.
Theo quy định này, người từ đủ 75 tuổi trở lên được xem xét hưởng trợ cấp hưu trí xã hội nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định. Riêng người từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo cũng đã được đưa vào diện thụ hưởng.
Người đề nghị hưởng trợ cấp phải không đang hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, trừ các trường hợp khác do Chính phủ quy định, đồng thời có văn bản đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.
Như vậy, chính sách hiện hành đã mở rộng quyền lợi đối với một bộ phận người cao tuổi từ đủ 70 tuổi, song chưa áp dụng chung cho tất cả người trong độ tuổi này.
Về đề xuất tiếp tục giảm độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội từ 75 xuống 70 tuổi, Bộ Y tế cho biết cần nghiên cứu tổng thể, đánh giá đầy đủ những tác động phát sinh, đặc biệt là sự gia tăng số lượng người được hưởng trợ cấp và nhu cầu ngân sách để thực hiện chính sách.
Việc mở rộng độ tuổi thụ hưởng đồng nghĩa với việc tăng số người được ngân sách nhà nước hỗ trợ hằng tháng. Vì vậy, bên cạnh mục tiêu bảo đảm an sinh, phương án điều chỉnh cần tính đến khả năng cân đối nguồn lực trong từng giai đoạn và tính bền vững của chính sách.
Đối với kiến nghị nâng mức trợ cấp từ 500.000 đồng lên 1 triệu đồng/tháng, Bộ Y tế cho rằng cần xem xét trên cơ sở khả năng cân đối ngân sách nhà nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng và yêu cầu bảo đảm an sinh xã hội trong từng thời kỳ.
Đây là những yếu tố quan trọng bởi việc điều chỉnh mức trợ cấp không chỉ tác động đến đời sống của từng người thụ hưởng mà còn làm tăng tổng kinh phí thực hiện chính sách trên phạm vi cả nước.
Trong bối cảnh dân số đang già hóa, nhu cầu chăm sóc sức khỏe và bảo đảm thu nhập cho người cao tuổi ngày càng lớn, yêu cầu mở rộng chính sách trợ cấp cần được đặt trong mối quan hệ với khả năng huy động và phân bổ nguồn lực an sinh.
Với kiến nghị giảm độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội xuống 60 tuổi đối với cựu chiến binh, Bộ Y tế cho biết đã ghi nhận ý kiến của cử tri và sẽ phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu trong quá trình hoàn thiện chính sách.
Việc xem xét chính sách ưu tiên dành cho cựu chiến binh phải bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng, quy định của pháp luật và khả năng cân đối ngân sách nhà nước.
Theo phản hồi của Bộ Y tế, quá trình hoàn thiện chính sách trợ cấp đối với người cao tuổi thời gian tới sẽ tiếp tục gắn với mục tiêu mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội, đồng thời bảo đảm nguồn lực thực hiện ổn định, lâu dài.
Những kiến nghị giảm tuổi hưởng và nâng mức trợ cấp phản ánh nhu cầu được hỗ trợ tốt hơn của nhóm người cao tuổi không có nguồn thu nhập thường xuyên. Tuy nhiên, các phương án điều chỉnh hiện mới ở giai đoạn nghiên cứu, xem xét, chưa phải chính sách đã được thông qua.
Trước mắt, người cao tuổi đủ 75 tuổi trở lên và người từ đủ 70 đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, nếu đáp ứng các điều kiện quy định, vẫn được xem xét hưởng trợ cấp hưu trí xã hội theo chính sách hiện hành.
Nâng tuổi thọ người Việt lên trên 80 tuổi, chú trọng chất lượng những năm sống khỏe
Việt Nam đặt mục tiêu đến giai đoạn 2036-2045, tuổi thọ trung bình đạt trên 80 tuổi, số năm sống khỏe trên 71 năm và tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế duy trì trên 99% dân số. Trọng tâm của chính sách dân số không chỉ là kéo dài tuổi thọ mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống, giúp người dân duy trì sức khỏe và khả năng tự chủ khi về già.
Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam liên tục được cải thiện trong những năm qua, phản ánh những thành tựu trong phát triển kinh tế, nâng cao điều kiện sống và chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, cùng với quá trình già hóa dân số nhanh, yêu cầu đặt ra không chỉ là giúp người dân sống lâu hơn mà còn phải giảm số năm sống chung với bệnh tật, duy trì khả năng vận động, sinh hoạt độc lập và tham gia các hoạt động xã hội.
Theo Quyết định số 2977/QĐ-BYT ngày 22/9/2026 của Bộ trưởng Bộ Y tế về ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 217/NQ-CP của Chính phủ, ngành y tế đã xác định lộ trình nâng cao tuổi thọ và số năm sống khỏe của người dân trong từng giai đoạn.
Cụ thể, giai đoạn 2026-2030, Việt Nam phấn đấu đạt tuổi thọ trung bình 75,5 tuổi, số năm sống khỏe tối thiểu 68 năm. Giai đoạn 2031-2035, các chỉ tiêu tương ứng là 76,5 tuổi và tối thiểu 69 năm. Đến giai đoạn 2036-2045, tuổi thọ trung bình được đặt mục tiêu trên 80 tuổi, số năm sống khỏe trên 71 năm, đồng thời duy trì tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế trên 99% dân số.
Những mục tiêu này cho thấy sự thay đổi trong cách tiếp cận chính sách dân số, từ quan tâm đến quy mô, cơ cấu và tuổi thọ sang chú trọng hơn chất lượng sức khỏe trong suốt vòng đời. Số năm sống khỏe trở thành thước đo quan trọng, bởi tuổi thọ tăng không đồng nghĩa với việc người dân có thêm những năm tháng khỏe mạnh.
Theo GS-TS.Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội, mục tiêu tuổi thọ trung bình trên 80 tuổi có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang già hóa dân số nhanh. Tuy nhiên, điều quan trọng là chất lượng những năm sống được cải thiện tương ứng với sự gia tăng tuổi thọ.
Một người có thể sống đến 80 hoặc 90 tuổi nhưng phải trải qua nhiều năm cuối đời trong tình trạng bệnh tật, suy giảm khả năng vận động và phụ thuộc vào người thân. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của cá nhân mà còn đặt ra áp lực chăm sóc đối với gia đình và hệ thống y tế.
Vì vậy, theo ông Nguyễn Đình Cử, chính sách dân số cần hướng tới việc giúp người cao tuổi duy trì sức khỏe, khả năng tự chăm sóc và sự tham gia vào đời sống cộng đồng. Kéo dài tuổi thọ phải gắn với kéo dài thời gian sống khỏe mạnh, hạn chế tình trạng phụ thuộc và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Định hướng này cũng phù hợp với Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện, liên tục trong suốt vòng đời, kết hợp giữa phòng bệnh, khám chữa bệnh và phục hồi chức năng.
Để hiện thực hóa các mục tiêu, Bộ Y tế xác định nâng cao chất lượng dân số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời xây dựng và triển khai Chiến lược quốc gia về dân số đến năm 2045 trên cơ sở tổng kết Chiến lược dân số Việt Nam đến năm 2030.
Cùng với việc hoàn thiện chính sách dân số, ngành y tế tiếp tục tăng cường năng lực phòng, chống dịch bệnh, ứng phó với các tình huống khẩn cấp về y tế công cộng và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Đây là những yếu tố có tác động trực tiếp đến tuổi thọ, tình trạng sức khỏe và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân.
Tuy nhiên, để tăng số năm sống khỏe, chăm sóc sức khỏe không thể chỉ bắt đầu ở tuổi già. Các chuyên gia cho rằng nhiều yếu tố dẫn đến suy giảm sức khỏe khi cao tuổi đã hình thành và tích lũy từ giai đoạn trẻ, trung niên, đặc biệt là những nguy cơ liên quan đến chế độ dinh dưỡng, vận động và bệnh không lây nhiễm.
Ths.Ngô Thị Giang, Trưởng khoa Lão khoa, Bệnh viện Đa khoa Đông Anh, cho biết quá trình lão hóa thường đi kèm với tình trạng suy giảm khối cơ, sức cơ, khả năng vận động và chức năng của nhiều cơ quan. Cùng với đó, các yếu tố nguy cơ tích lũy qua nhiều năm khiến người cao tuổi dễ mắc bệnh mạn tính, đồng thời phải đối mặt với nhiều bệnh lý cùng lúc.
Tình trạng đa bệnh lý không chỉ làm tăng nhu cầu khám chữa bệnh mà còn có thể ảnh hưởng đến khả năng tự chăm sóc, sinh hoạt độc lập và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.
Theo Ths.Ngô Thị Giang, việc nâng cao số năm sống khỏe cần được thực hiện từ sớm thông qua duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý, vận động thường xuyên, hạn chế những thói quen có hại cho sức khỏe, khám sức khỏe theo khuyến cáo và quản lý tốt các bệnh mạn tính.
Đối với người cao tuổi, chăm sóc sức khỏe cũng cần được tiếp cận toàn diện hơn, không chỉ tập trung điều trị từng bệnh riêng lẻ mà phải quan tâm đến khả năng vận động, dinh dưỡng, phòng ngừa té ngã, phục hồi chức năng và duy trì khả năng tự chăm sóc.
Những dịch vụ chăm sóc tại nhà, chăm sóc dài hạn và hỗ trợ sinh hoạt phù hợp với tình trạng sức khỏe có vai trò ngày càng quan trọng, nhất là đối với người cao tuổi sống một mình hoặc gặp khó khăn trong vận động.
Ở cấp độ hệ thống, y tế cơ sở được xác định là lực lượng quan trọng trong quản lý sức khỏe ban đầu, tư vấn phòng bệnh, phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ và theo dõi bệnh mạn tính. Việc củng cố mạng lưới chăm sóc sức khỏe gần dân sẽ tạo điều kiện để người dân tiếp cận dịch vụ y tế thường xuyên, giảm nguy cơ bệnh tiến triển nặng và hạn chế những biến chứng có thể phòng ngừa.
Bên cạnh đó, mục tiêu duy trì tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế trên 99% dân số đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh. Tỷ lệ tham gia cao là nền tảng quan trọng, song hiệu quả bảo vệ sức khỏe còn phụ thuộc vào khả năng người dân được khám, tư vấn, điều trị và theo dõi sức khỏe kịp thời.
Đặc biệt, trước xu hướng gia tăng các bệnh mạn tính và nhu cầu chăm sóc dài hạn trong xã hội già hóa, việc phát triển các dịch vụ phòng bệnh, phục hồi chức năng và chăm sóc người cao tuổi cần được quan tâm tương xứng với hoạt động điều trị.
Các mục tiêu về tuổi thọ, số năm sống khỏe và bao phủ Bảo hiểm y tế vì vậy có mối quan hệ chặt chẽ. Tuổi thọ phản ánh kết quả tổng thể của những cải thiện về điều kiện sống và chăm sóc sức khỏe, trong khi số năm sống khỏe thể hiện rõ hơn chất lượng sức khỏe mà người dân có được. Mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế là một trong những điều kiện để thực hiện đồng thời cả hai mục tiêu.
Trong bối cảnh già hóa dân số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc về nhu cầu chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng dân số đòi hỏi sự phối hợp giữa chính sách y tế, an sinh xã hội và trách nhiệm chủ động bảo vệ sức khỏe của mỗi cá nhân.
Đích đến của chính sách không chỉ là gia tăng số năm sống mà còn giúp người dân có thêm những năm tháng khỏe mạnh, duy trì sự độc lập, giảm gánh nặng bệnh tật và tiếp tục đóng góp cho gia đình, cộng đồng ngay cả ở tuổi cao.
Bộ Y tế siết chất lượng đào tạo, chấm dứt tình trạng chạy theo chứng chỉ
Bộ Y tế yêu cầu phân định rõ đào tạo liên tục, cập nhật kiến thức y khoa và đào tạo cấp chứng chỉ kỹ thuật chuyên môn, chuyển trọng tâm quản lý từ hồ sơ, số lượng khóa học sang đánh giá năng lực thực tế của nhân viên y tế, gắn quyền tự chủ của cơ sở đào tạo với trách nhiệm bảo đảm an toàn người bệnh.
TS.Nguyễn Ngô Quang, Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo đánh giá, hoạt động đào tạo liên tục đã góp phần quan trọng nâng cao trình độ chuyên môn và chất lượng khám chữa bệnh. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn những đơn vị tổ chức đào tạo chưa đúng chức năng, nhiệm vụ hoặc chưa tuân thủ đầy đủ các quy định hiện hành.
Yêu cầu trước hết là phân định rõ mục đích, đối tượng và giá trị pháp lý của từng hình thức đào tạo. Đào tạo liên tục, cập nhật kiến thức y khoa liên tục (CME) và đào tạo cấp chứng chỉ kỹ thuật chuyên môn không thể được xem là những hoạt động tương đương, bởi mỗi loại có yêu cầu tổ chức và kết quả đào tạo khác nhau.
“Đào tạo liên tục, cập nhật kiến thức y khoa liên tục (CME) và đào tạo cấp chứng chỉ kỹ thuật chuyên môn có mục đích, đối tượng tham gia và sản phẩm pháp lý hoàn toàn khác nhau. Tuyệt đối không được đồng nhất việc tổ chức đào tạo liên tục cấp Giấy chứng nhận CME với việc đào tạo cấp chứng chỉ kỹ thuật chuyên môn”, TS.Nguyễn Ngô Quang nhấn mạnh.
Theo các quy định được hệ thống hóa tại hội thảo, đào tạo liên tục nói chung thực hiện theo Thông tư số 22/2013/TT-BYT và Thông tư số 26/2020/TT-BYT, nhằm bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn thông qua các chương trình ngắn hạn.
Trong khi đó, hoạt động cập nhật kiến thức y khoa liên tục áp dụng đối với người hành nghề khám chữa bệnh theo Thông tư số 32/2023/TT-BYT, với yêu cầu tích lũy tối thiểu 120 giờ tín chỉ trong 5 năm liên tục để đáp ứng quy định về cập nhật kiến thức y khoa trong quá trình hành nghề.
Riêng đào tạo cấp chứng chỉ kỹ thuật chuyên môn được thực hiện theo Điều 12 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP, nhằm xác nhận năng lực thực hiện một kỹ thuật chuyên môn cụ thể. Đây là nội dung có ý nghĩa trực tiếp đối với việc bảo đảm người hành nghề được đào tạo phù hợp trước khi thực hiện những kỹ thuật liên quan đến chăm sóc, điều trị người bệnh.
Việc phân định rõ các loại hình đào tạo được xem là yêu cầu quan trọng nhằm tránh tình trạng sử dụng giấy chứng nhận tham gia một khóa cập nhật kiến thức để thay thế cho chứng chỉ xác nhận năng lực thực hiện kỹ thuật chuyên môn.
Đặc biệt, Bộ Y tế đang chuyển phương thức quản lý chất lượng đào tạo từ chú trọng hồ sơ, thủ tục sang đánh giá dựa trên các tiêu chí và minh chứng thực tế.
Theo Cục trưởng Nguyễn Ngô Quang, Quyết định số 2546/QĐ-BYT ngày 10/8/2026 của Bộ Y tế đã thiết lập bộ tiêu chuẩn bảo đảm chất lượng đào tạo gồm 8 tiêu chuẩn, 31 tiêu chí, tập trung vào 5 trụ cột: cơ sở vật chất và điều kiện thực hành; đội ngũ giảng viên; chương trình đào tạo; tài liệu đào tạo; công tác quản lý, điều hành.
Các cơ sở tổ chức đào tạo phải bảo đảm đầy đủ điều kiện tương ứng với chương trình, đồng thời xây dựng hệ thống minh chứng để đánh giá chất lượng từ đầu vào, quá trình tổ chức đến kết quả đào tạo.
Thay vì chỉ kiểm tra một đơn vị có đủ giấy tờ, chương trình hay danh sách học viên, hoạt động đánh giá cần xác định người học có thực sự đạt được năng lực chuyên môn theo mục tiêu đào tạo và có khả năng áp dụng kiến thức, kỹ năng vào công việc hay không.
Theo định hướng được trình bày tại hội thảo, công tác bảo đảm chất lượng cần vận hành theo chu trình lập kế hoạch, thực hiện, kiểm tra và cải tiến. Đây là cơ sở để các đơn vị chủ động phát hiện những hạn chế, điều chỉnh chương trình, phương pháp giảng dạy và đánh giá kết quả thực hành.
Đáng chú ý, Bộ Y tế chủ trương tăng quyền tự chủ cho cơ sở đào tạo, đồng thời chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, không đặt thêm điều kiện hoặc thủ tục ngoài quy định pháp luật.
Tuy nhiên, quyền chủ động phải gắn với trách nhiệm giải trình. Các cơ sở đào tạo có trách nhiệm công khai kế hoạch, lưu trữ đầy đủ dữ liệu, hồ sơ minh chứng và chịu trách nhiệm về chất lượng đầu ra.
Hoạt động hậu kiểm sẽ được định hướng theo mức độ nguy cơ, trong đó chú trọng năng lực thực tế của học viên, chất lượng tổ chức đào tạo và những yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn người bệnh.
Từ thực tiễn quản lý tại Hà Nội, PGS-TS.Doãn Ngọc Hải, Giám đốc Trung tâm Đào tạo và Chuyển giao công nghệ (Sở Y tế Hà Nội) cho biết, Thủ đô hiện có hơn 5.000 cơ sở khám chữa bệnh và khoảng 19.000 bác sỹ. Với quy mô này, thách thức lớn không nằm ở việc thiếu các khóa đào tạo mà ở khả năng theo dõi, đánh giá năng lực người hành nghề một cách thống nhất, liên tục.
Theo ông Doãn Ngọc Hải, quản lý đào tạo cần chuyển từ thống kê số lượng lớp học và chứng chỉ sang theo dõi quá trình phát triển năng lực của từng nhân viên y tế. Trên cơ sở đó, Sở Y tế Hà Nội đề xuất xây dựng Đề án “Hộ chiếu năng lực số”, hướng tới quản lý thông tin đào tạo, cập nhật kiến thức và năng lực chuyên môn của người hành nghề trên nền tảng số.
Đề xuất này được kỳ vọng tạo thuận lợi cho việc đối chiếu quá trình đào tạo, đánh giá năng lực và hỗ trợ cơ sở y tế bố trí nhân lực phù hợp với yêu cầu chuyên môn.
Chia sẻ kinh nghiệm từ cơ sở đào tạo, TS.Vũ Việt Hằng, Phụ trách Trung tâm Đào tạo và Chuyển giao công nghệ, Trường Đại học Y Hà Nội, cho biết đơn vị đang vận hành hơn 550 chương trình đào tạo, phát triển các mô hình chuyên sâu kết hợp đa chuyên ngành và tăng cường thực hành tại phòng thí nghiệm mô phỏng.
Cùng với đổi mới phương pháp giảng dạy, nhà trường đẩy mạnh số hóa quy trình quản lý, khảo thí và cấp chứng chỉ, qua đó nâng cao khả năng kiểm soát quá trình học tập và đánh giá kết quả đào tạo.
Theo các ý kiến tại hội thảo, việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý đào tạo có ý nghĩa quan trọng đối với hệ thống y tế có quy mô lớn, nhiều loại hình cơ sở và đội ngũ nhân lực phân bố tại các tuyến, địa phương khác nhau.
Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả, các đơn vị cần có hệ thống dữ liệu đủ tin cậy, khả năng xác thực kết quả đào tạo và cơ chế chia sẻ thông tin thống nhất giữa các cơ sở.
Đại diện nhiều cơ sở đào tạo, bệnh viện, cơ quan quản lý và đơn vị thuộc lực lượng vũ trang cũng nêu những vướng mắc trong tổ chức đào tạo, đặc biệt liên quan đến định mức kinh tế kỹ thuật, thù lao giảng viên và điều kiện triển khai các chương trình thực hành chuyên sâu.
Một trong những kiến nghị đáng chú ý là sớm xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đào tạo liên tục, tạo điều kiện kết nối, chia sẻ thông tin trên phạm vi toàn quốc, bao gồm hệ thống y tế dân sự, quân y và y tế công an.
Theo các đại biểu, cơ sở dữ liệu thống nhất sẽ hỗ trợ công tác quản lý, kiểm tra, xác minh kết quả đào tạo, đồng thời hạn chế việc lưu trữ phân tán và khó đối chiếu hồ sơ giữa các đơn vị.
Để nâng cao chất lượng đào tạo y khoa thời gian tới, Cục trưởng Nguyễn Ngô Quang cho biết, Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo sẽ phối hợp với các cơ sở đào tạo, cơ sở thực hành và hội chuyên ngành rà soát, xây dựng khung chương trình đào tạo, đặc biệt đối với các chương trình kỹ thuật chuyên môn, làm cơ sở tham khảo cho các đơn vị.
Cơ quan này cũng sẽ phối hợp với Trường Đại học Y Hà Nội và các cơ quan liên quan thúc đẩy xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đào tạo liên tục, hướng tới liên thông thông tin giữa các hệ thống y tế.
Bên cạnh đó, Bộ Y tế dự kiến tiếp tục hoàn thiện hướng dẫn xây dựng chương trình đào tạo liên tục và chương trình dành cho giảng viên lâm sàng, nhằm hỗ trợ các cơ sở nâng cao chất lượng đào tạo và thực hiện tốt trách nhiệm được giao.
Theo lãnh đạo Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, hệ thống quy định pháp lý về đào tạo liên tục và đào tạo cấp chứng chỉ kỹ thuật chuyên môn đã cơ bản hình thành, tạo cơ sở để các đơn vị triển khai theo hướng tự chủ, tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm về chất lượng.