Nút mạch điều trị ung thư gan qua cổ tay, thêm lựa chọn giúp người bệnh thuận tiện hơn
Ung thư biểu mô tế bào gan là bệnh ác tính thường xuất hiện trên nền bệnh gan mạn tính. Việc lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giai đoạn bệnh, chức năng gan, đặc điểm khối u và tình trạng toàn thân của người bệnh.
Trong số các phương pháp điều trị hiện nay, nút mạch hóa chất qua động mạch (TACE) là kỹ thuật điều trị tại chỗ quan trọng đối với những bệnh nhân có chỉ định phù hợp. Bằng việc đưa thuốc chống ung thư trực tiếp tới vùng tổn thương kết hợp nút các mạch máu nuôi khối u, phương pháp này giúp tập trung tác động điều trị tại khối u.
| Ê-kíp Khoa Điều trị Gan Mật Tụy thực hiện TACE qua đường động mạch quay. |
Gần đây, Khoa Điều trị Gan Mật Tụy, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 tiếp nhận một bệnh nhân nam cao tuổi được chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan đa ổ giai đoạn trung gian trên nền viêm gan virus B. Đáng chú ý, người bệnh đồng thời mắc đái tháo đường type 2 và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Sau khi đánh giá toàn diện tình trạng sức khỏe và hội chẩn, các bác sỹ quyết định thực hiện TACE qua động mạch quay. Thay vì đưa catheter vào động mạch đùi tại vùng bẹn, ê-kíp lựa chọn tiếp cận hệ thống mạch máu từ động mạch quay ở cổ tay.
Lựa chọn này giúp quá trình chăm sóc sau thủ thuật thuận tiện hơn, đặc biệt đối với người cao tuổi, người có nhiều bệnh lý phối hợp hoặc khó chịu khi phải duy trì tư thế nằm bất động trong thời gian dài.
Trong quá trình TACE, bác sỹ can thiệp đưa một hệ thống ống thông nhỏ vào lòng động mạch dưới hướng dẫn của máy chụp mạch số hóa xóa nền (DSA). Catheter được đưa đến và tiếp cận chọn lọc các nhánh động mạch cấp máu cho khối u gan.
Sau khi xác định chính xác mạch máu nuôi khối u, thuốc chống ung thư và vật liệu nút mạch được đưa tới vùng tổn thương. Việc này nhằm tăng tác động điều trị tại chỗ, đồng thời làm giảm dòng máu nuôi dưỡng khối u.
Điểm khác biệt đáng chú ý của kỹ thuật được áp dụng cho bệnh nhân trên không nằm ở mục tiêu điều trị khối u mà ở đường tiếp cận hệ thống mạch máu.
Theo phương pháp truyền thống, catheter thường được đưa vào qua động mạch đùi ở vùng bẹn. Với đường động mạch quay, bác sĩ chọc mạch tại cổ tay, sau đó đưa catheter theo hệ thống động mạch đến động mạch gan và tiếp tục thực hiện các bước can thiệp.
Dù sử dụng đường vào từ cổ tay, mục tiêu điều trị tại gan về cơ bản không thay đổi. Sự khác biệt chủ yếu liên quan tới vị trí chọc mạch và quá trình chăm sóc, hồi phục sau thủ thuật.
Một trong những điểm thuận lợi của đường động mạch quay là người bệnh có thể tránh phải nằm bất động kéo dài để theo dõi vị trí chọc mạch tại vùng bẹn. Khi tình trạng sức khỏe cho phép và được bác sĩ đồng ý, bệnh nhân có thể ngồi dậy, vận động sớm hơn sau can thiệp.
Điều này có thể mang lại sự thuận tiện đáng kể đối với người cao tuổi hoặc những bệnh nhân có bệnh lý phối hợp khiến việc nằm lâu trở nên khó khăn. Tuy nhiên, khả năng vận động sau thủ thuật vẫn phụ thuộc vào tình trạng toàn thân, việc sử dụng thuốc an thần và quy trình theo dõi cụ thể tại bệnh viện.
Các bác sỹ cũng lưu ý, TACE qua động mạch quay là một lựa chọn bổ sung chứ không phải phương pháp có thể áp dụng cho tất cả bệnh nhân, đồng thời không thay thế hoàn toàn đường tiếp cận qua động mạch đùi.
Trước khi quyết định đường vào mạch máu, bác sỹ cần đánh giá nhiều yếu tố, trong đó có tình trạng hệ thống mạch, đặc điểm giải phẫu, tiền sử can thiệp mạch, các bệnh lý phối hợp cũng như yêu cầu kỹ thuật của từng ca bệnh.
Trong quá trình thực hiện, một số tình huống như co thắt hoặc tắc động mạch quay, khó đưa catheter qua hệ thống mạch máu có thể xảy ra. Khi cần thiết, ê-kíp can thiệp có thể chuyển sang đường động mạch đùi nhằm bảo đảm an toàn và hoàn thành thủ thuật.
Việc lựa chọn đường động mạch quay cũng không đồng nghĩa người bệnh sẽ không gặp các phản ứng thường thấy sau TACE. Sau can thiệp, bệnh nhân vẫn cần được theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khỏe, bao gồm các biểu hiện như đau vùng gan, sốt, buồn nôn, mệt mỏi, cùng các dấu hiệu sinh tồn và xét nghiệm cần thiết theo chỉ định của bác sĩ.
Đối với vị trí chọc mạch ở cổ tay, điều dưỡng sẽ theo dõi tình trạng ép cầm máu, phát hiện sớm chảy máu, sưng đau hoặc tụ máu, đồng thời đánh giá tuần hoàn bàn tay thông qua màu sắc, nhiệt độ, cảm giác và khả năng vận động của các ngón tay.
Sau thủ thuật, người bệnh cần thông báo ngay cho nhân viên y tế nếu xuất hiện các dấu hiệu bất thường như chảy máu không cầm, bàn tay lạnh hoặc tái, tê bì tăng dần, đau nhiều hay vùng cổ tay sưng nhanh.
Tưởng con rối loạn tiêu hóa, mẹ bất ngờ khi bác sĩ phát hiện bệnh lý cần cấp cứu
Thấy con 18 tháng tuổi đau bụng từng cơn, nôn trớ, gia đình nghĩ trẻ bị rối loạn tiêu hóa nên tự mua men cho uống. Tuy nhiên, kết quả siêu âm tại cơ sở y tế phát hiện trẻ bị lồng ruột cấp tính ở giờ thứ 15, cần chuyển viện tháo lồng khẩn trương để ngăn nguy cơ hoại tử, thủng ruột.
Bệnh nhi L.H.Đ., 18 tháng tuổi, ở Phú Thọ, được gia đình đưa đến Phòng khám Đa khoa MEDLATEC Vĩnh Phúc trong tình trạng đau bụng, quấy khóc từng cơn dữ dội.
Người mẹ cho biết, từ đêm trước ngày đi khám, trẻ bắt đầu xuất hiện những cơn đau bụng bất thường. Mỗi lần đau, bé khóc thét, ưỡn người, kèm nôn trớ liên tục. Trẻ ăn vào lại nôn ra dịch lẫn thức ăn.
Cho rằng con chỉ bị rối loạn tiêu hóa thông thường, người mẹ tự mua men tiêu hóa cho trẻ uống. Tuy nhiên, tình trạng không cải thiện. Đến trưa hôm sau, thấy con mệt hơn và các cơn đau xuất hiện dồn dập, gia đình đưa trẻ đến cơ sở y tế kiểm tra.
Qua thăm khám, bác sỹ phát hiện một khối bất thường ở vùng hạ sườn phải, trong khi bụng trẻ vẫn mềm và chưa có phản ứng thành bụng. Trước những dấu hiệu này, trẻ được chỉ định siêu âm và chụp X-quang ổ bụng để tìm nguyên nhân.
Kết quả X-quang chưa ghi nhận những dấu hiệu bất thường rõ ràng, các quai ruột không giãn, chưa thấy mức nước hơi hay liềm khí dưới hoành. Tuy nhiên, siêu âm ổ bụng lại phát hiện khối lồng ruột ở vùng hạ sườn phải, đường kính ngang khoảng 29 mm và kéo dài trên một đoạn 43 mm. Bên trong khối lồng có hạch mạc treo kích thước 7,5 x 4 mm, chưa ghi nhận dịch tự do trong khối lồng cũng như trong ổ bụng.
Từ kết quả thăm khám và chẩn đoán hình ảnh, các bác sĩ xác định bệnh nhi bị lồng ruột, chưa xuất hiện biến chứng, ở giờ thứ 15 kể từ khi khởi phát triệu chứng.
Ngay sau khi xác định tình trạng bệnh, gia đình được tư vấn chuyển trẻ đến bệnh viện tuyến trên để xử trí. Bệnh nhi được bơm hơi tháo lồng ngay khi tiếp nhận. Do được phát hiện tương đối sớm, thủ thuật diễn ra thuận lợi. Sau 24 giờ, kiểm tra cho thấy khối lồng đã hoàn toàn mất, lưu thông tiêu hóa phục hồi tốt và trẻ được xuất viện.
Trường hợp này đáng lưu ý bởi những biểu hiện ban đầu như đau bụng, nôn trớ ở trẻ nhỏ rất dễ khiến cha mẹ nghĩ đến rối loạn tiêu hóa thông thường. Trong khi đó, đây cũng có thể là dấu hiệu của lồng ruột – một trong những tình trạng cấp cứu ngoại khoa thường gặp ở trẻ em, đặc biệt ở nhóm dưới 2 tuổi.
Lồng ruột xảy ra khi một đoạn ruột chui vào lòng đoạn ruột kế cận, làm các mạch máu nuôi ruột bị chèn ép. Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, tình trạng này có thể tiến triển từ phù nề, sung huyết đến thiếu máu, hoại tử ruột và gây ra những biến chứng nghiêm trọng.
Khoảng 90 - 95% trường hợp lồng ruột ở trẻ em là nguyên phát, không tìm thấy nguyên nhân thực thể rõ ràng và thường liên quan tới sự co bóp bất thường của nhu động ruột. Khoảng 5 - 10% trường hợp còn lại có thể liên quan đến các bất thường bẩm sinh hoặc tổn thương thực thể như túi thừa Meckel, nang ruột đôi, polyp hay khối u ruột.
Lồng hồi - đại tràng là dạng thường gặp nhất, chiếm khoảng 85% tổng số trường hợp. Bệnh gặp nhiều ở trẻ dưới 2 tuổi và tỷ lệ ở bé trai được ghi nhận cao gấp khoảng 2 lần bé gái.
Điều đáng lo ngại là mức độ tổn thương của ruột có thể tăng nhanh nếu trẻ đến viện muộn. Trong vòng 24 giờ đầu, đoạn ruột bị lồng bắt đầu bị thắt lại, dẫn đến phù nề và xuất huyết. Từ 24 - 48 giờ, tình trạng phù nề, sung huyết và xuất huyết có thể trở nên nghiêm trọng hơn.
Nếu kéo dài trên 48 giờ, tuần hoàn tại đoạn ruột bị lồng có nguy cơ đình trệ, dẫn tới nhồi máu, hoại tử ruột. Khi đó, trẻ có thể đối mặt với thủng ruột, viêm phúc mạc, sốc nhiễm trùng và nguy cơ tử vong nếu không được phẫu thuật cấp cứu kịp thời.
Một trong những dấu hiệu cần đặc biệt chú ý là trẻ đột ngột đau bụng dữ dội từng cơn. Trẻ nhỏ chưa thể mô tả cảm giác đau nên thường biểu hiện bằng khóc thét, co chân hoặc ưỡn người. Cơn đau có thể kéo dài từ 3 - 10 phút và lặp lại sau mỗi 15 - 30 phút. Đáng chú ý, giữa các cơn đau, trẻ đôi khi lại chơi hoặc ngủ gần như bình thường, khiến gia đình dễ chủ quan.
Nôn trớ cũng thường xuất hiện sớm sau cơn đau. Ban đầu trẻ có thể nôn thức ăn, sau đó nôn dịch vàng hoặc xanh. Khi bệnh tiến triển muộn, trẻ có thể đi ngoài phân lẫn nhầy máu màu đỏ tươi hoặc nâu sẫm. Khi thăm khám, bác sĩ cũng có thể sờ thấy khối chắc trong ổ bụng, thường ở vùng hạ sườn phải.
BSCKI. Mai Thanh Huyền, chuyên khoa Chẩn đoán hình ảnh, Phòng khám Đa khoa MEDLATEC Vĩnh Phúc cho biết, ở giai đoạn đầu, biểu hiện của lồng ruột có thể dễ nhầm với rối loạn tiêu hóa, viêm dạ dày ruột hoặc hội chứng lỵ. Vì vậy, chẩn đoán hình ảnh có vai trò quan trọng trong phát hiện bệnh.
Trong đó, siêu âm ổ bụng là phương pháp có giá trị cao, với độ nhạy và độ đặc hiệu có thể đạt gần 100%. Trên hình ảnh siêu âm, bác sỹ có thể nhận diện những dấu hiệu đặc trưng của khối lồng như hình “bia bắn” ở mặt cắt ngang hoặc hình “bánh mì kẹp” trên mặt cắt dọc.
Siêu âm Doppler màu còn hỗ trợ đánh giá tình trạng tưới máu tại khối lồng và nguy cơ biến chứng. Việc xác định khối lồng còn tín hiệu mạch máu, chưa xuất hiện dịch tự do phức tạp trong khối lồng hay ổ bụng là những thông tin quan trọng để bác sĩ cân nhắc khả năng tháo lồng mà chưa phải phẫu thuật.
Ở bệnh nhi 18 tháng tuổi nói trên, thời điểm được phát hiện mới là giờ thứ 15, trẻ chưa đi ngoài ra máu và kết quả X-quang chưa ghi nhận bất thường rõ rệt. Tuy nhiên, siêu âm đã phát hiện được khối lồng, giúp trẻ nhanh chóng được chuyển viện và tháo lồng bằng hơi trước khi xuất hiện các biến chứng nặng.
Từ trường hợp này, bác sỹ khuyến cáo cha mẹ không nên chủ quan khi trẻ nhỏ đột ngột quấy khóc dữ dội từng cơn, đặc biệt nếu kèm nôn trớ, bỏ bú hoặc rối loạn đại tiện. Việc tự cho trẻ uống thuốc hoặc men tiêu hóa có thể làm chậm thời điểm tiếp cận y tế trong những trường hợp cần xử trí cấp cứu.
Khi xuất hiện các biểu hiện bất thường, trẻ cần được đưa đến cơ sở y tế có chuyên khoa phù hợp để thăm khám, siêu âm và xác định nguyên nhân. Với lồng ruột, phát hiện và xử trí sớm không chỉ nâng cao khả năng tháo lồng thành công mà còn giúp hạn chế nguy cơ hoại tử ruột, phẫu thuật và những biến chứng đe dọa tính mạng.
Robot AI mở đường phẫu thuật ít xâm lấn cho người đột quỵ xuất huyết não
Thay vì mở vùng xương sọ rộng 10-15 cm để tiếp cận khối máu tụ, bác sỹ có thể tạo hành lang nhỏ khoảng 1,5-3 cm dưới sự hỗ trợ của robot AI, hệ thống định vị và hình ảnh chuyên sâu. Phương pháp phẫu thuật ít xâm lấn, cá thể hóa đang mở thêm lựa chọn điều trị cho người bệnh đột quỵ xuất huyết não phù hợp.
Những tiến bộ trong công nghệ hình ảnh, định vị thần kinh và robot hỗ trợ đang từng bước thay đổi cách tiếp cận phẫu thuật đối với người bệnh đột quỵ xuất huyết não. Thay vì lựa chọn đường mổ chủ yếu dựa trên vị trí tổn thương, bác sỹ
có thể lập kế hoạch riêng cho từng bệnh nhân, tính toán mối tương quan giữa khối máu tụ với các cấu trúc não và bó sợi thần kinh quan trọng để tìm đường tiếp cận ít gây tổn thương nhất.
ThS.BS.CKII Mai Hoàng Vũ, chuyên khoa ngoại thần kinh - cột sống, Bệnh viện đã triển khai phẫu thuật xâm lấn tối thiểu cá thể hóa thông qua ống nong dẫn đường thần kinh dưới sự hỗ trợ của robot AI Modus V Synaptive.
Báo cáo dựa trên dữ liệu theo dõi 60 bệnh nhân xuất huyết não được điều trị bằng phương pháp này trong giai đoạn từ tháng 10/2025 đến tháng 4/2026. Theo bác sỹ Vũ, 95% người bệnh trong nhóm nghiên cứu có khả năng vận động và sinh hoạt tốt sau phẫu thuật cấp cứu.
Đây là kỹ thuật mới được triển khai tại bệnh viện, với điểm đáng chú ý là kế hoạch phẫu thuật được cá thể hóa cho từng bệnh nhân. Đường tiếp cận được lựa chọn căn cứ vào vị trí, thể tích, phạm vi của khối máu tụ cũng như mối tương quan với các cấu trúc thần kinh xung quanh.
Mục tiêu không đơn thuần là tìm đường ngắn nhất đến khối máu tụ mà phải lựa chọn hành lang phù hợp, hạn chế tối đa tác động đến mô não lành và những bó sợi thần kinh có vai trò quan trọng đối với chức năng của người bệnh.
Trước đây, trong phẫu thuật lấy máu tụ ở người đột quỵ xuất huyết não, bác sỹ có thể phải mở vùng xương sọ rộng khoảng 10-15 cm để tiếp cận tổn thương. Đường mổ lớn có nguy cơ tác động đến mô não trên đường tiếp cận, trong khi việc lựa chọn hướng vào chủ yếu dựa trên vị trí tổn thương và chưa tính toán đầy đủ đường đi của các bó sợi thần kinh. Điều này có thể ảnh hưởng đến mô não lành và quá trình hồi phục của bệnh nhân.
Với cách tiếp cận mới, trước phẫu thuật, người bệnh được chụp cộng hưởng từ kết hợp kỹ thuật hình ảnh bó sợi thần kinh DTI. Dữ liệu này giúp bác sĩ xác định tương quan giữa khối máu tụ với đường đi của những bó sợi thần kinh cần bảo tồn.
Hệ thống định vị Navigation tiếp tục hỗ trợ xác định chính xác vị trí tổn thương trong não, trong khi robot giúp bác sĩ định hướng đường tiếp cận khối máu tụ dựa trên kế hoạch đã được xây dựng trước phẫu thuật.
Tùy vị trí khối máu tụ và đặc điểm giải phẫu của từng bệnh nhân, bác sĩ có thể lựa chọn đường xuyên vỏ não hoặc xuyên rãnh. Điểm cốt lõi là tìm được hướng tiếp cận phù hợp, tránh hoặc hạn chế tối đa tác động đến các bó sợi thần kinh quan trọng.
Từ kế hoạch đã được cá thể hóa, bác sỹ sử dụng ống nong dẫn đường thần kinh để tạo một hành lang có kích thước khoảng 1,5-3 cm. Hành lang này được định hướng đi song song với các bó sợi thần kinh để tiếp cận trực tiếp khối máu tụ, thay vì tạo một đường mổ lớn qua mô não.
Qua đường tiếp cận nhỏ, hệ thống robot AI hỗ trợ quan sát vùng tổn thương, bác sĩ đưa dụng cụ tới khối máu tụ để lấy máu và kiểm soát tình trạng chảy máu.
Đáng chú ý, mục tiêu phẫu thuật không phải bằng mọi giá lấy sạch hoàn toàn máu tụ. Lượng máu còn lại sau can thiệp có thể khác nhau ở từng bệnh nhân, ở mức dưới 15 ml trong nhóm được báo cáo. Bác sĩ cân nhắc giữa mức độ loại bỏ máu tụ và nguy cơ tác động đến những cấu trúc não lân cận nhằm bảo đảm an toàn cho người bệnh.
TS.Nguyễn Văn Tuấn, Trưởng khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Nhân dân 115 TP.HCM đánh giá, phẫu thuật ít xâm lấn theo hướng cá thể hóa để loại bỏ khối máu tụ dưới sự hỗ trợ của robot AI Modus V Synaptive là một hướng điều trị cập nhật, giúp bác sỹ có thêm lựa chọn can thiệp cho những bệnh nhân đột quỵ xuất huyết não phù hợp.
Mục tiêu quan trọng của phương pháp là không chỉ xử lý khối máu tụ mà còn bảo tồn tối đa các cấu trúc thần kinh, qua đó tạo điều kiện để người bệnh phục hồi chức năng và sớm trở lại sinh hoạt sau điều trị.
Tuy nhiên, phẫu thuật robot không đồng nghĩa máy móc thay thế bác sĩ trong quá trình điều trị. Hệ thống robot, hình ảnh DTI và định vị thần kinh đóng vai trò hỗ trợ lập kế hoạch, xác định đường tiếp cận và tăng độ chính xác trong thao tác. Việc đánh giá chỉ định, lựa chọn chiến lược phẫu thuật, lấy máu tụ và kiểm soát chảy máu vẫn do ê-kíp chuyên môn thực hiện.
Đột quỵ xuất huyết não xảy ra khi mạch máu trong não bị vỡ, khiến máu tràn vào nhu mô não và hình thành khối máu tụ. Khối máu có thể gây chèn ép mô não, tăng áp lực nội sọ và làm tổn thương các cấu trúc thần kinh. Mức độ nguy hiểm phụ thuộc vào vị trí, kích thước khối máu tụ, tốc độ chảy máu, tình trạng toàn thân cũng như thời điểm người bệnh được cấp cứu.
Không phải tất cả bệnh nhân xuất huyết não đều cần hoặc phù hợp với phẫu thuật. Việc lựa chọn điều trị nội khoa, can thiệp hay phẫu thuật cần dựa trên đánh giá toàn diện từng trường hợp. Vì vậy, khả năng xây dựng một chiến lược điều trị cá thể hóa ngày càng trở thành yếu tố quan trọng trong cấp cứu và điều trị đột quỵ.