Y tế - Sức khỏe
Sửa Luật An toàn thực phẩm, thiết lập lại trách nhiệm trong toàn bộ chuỗi cung ứng
D.Ngân - 24/10/2026 09:26
Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), đề xuất thay đổi căn bản phương thức quản lý theo hướng kiểm soát nguy cơ, tăng cường hậu kiểm, xây dựng dữ liệu liên thông và thống nhất đầu mối quản lý.

Chuyển trọng tâm sang kiểm soát nguy cơ, tăng trách nhiệm doanh nghiệp

An toàn thực phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe người dân, đồng thời tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và sự phát triển của thị trường. Mỗi sản phẩm trước lúc đến tay người tiêu dùng đều trải qua nhiều công đoạn, với sự tham gia của các cơ sở sản xuất, chế biến, vận chuyển, phân phối và kinh doanh. Nguy cơ mất an toàn có thể phát sinh ở bất kỳ công đoạn nào, trong khi việc phân định trách nhiệm và truy xuất nguồn gốc vẫn còn những bất cập.

Những hạn chế trong phương thức quản lý, sự phân tán chức năng giữa các cơ quan và tình trạng dữ liệu thiếu liên thông đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách thức kiểm soát an toàn thực phẩm, hướng tới phòng ngừa nguy cơ ngay trong quá trình sản xuất, kinh doanh, thay vì chủ yếu phát hiện và xử lý vi phạm sau khi sản phẩm đã lưu thông.

An toàn thực phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe người dân, đồng thời tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và sự phát triển của thị trường.

Ngày 24/10, Chính phủ trình Quốc hội báo cáo về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), trên cơ sở Tờ trình số 915/TTr-CP ngày 16/10/2026. Dự thảo Luật gồm 9 chương, 74 điều, tập trung hoàn thiện phương thức quản lý, tăng cường hiệu quả giám sát và khắc phục những bất cập phát sinh trong quá trình thực thi Luật hiện hành.

Theo báo cáo của Chính phủ, sau nhiều năm triển khai, Luật An toàn thực phẩm đã đạt được những kết quả nhất định nhưng mô hình quản lý nhà nước vẫn còn phân tán, cắt khúc giữa nhiều bộ, ngành. Phương thức quản lý một số nhóm thực phẩm chưa phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế, dữ liệu chưa được hệ thống hóa thống nhất giữa Trung ương và địa phương, trong khi hoạt động kinh doanh thực phẩm trên nền tảng thương mại điện tử còn tồn tại khoảng trống pháp lý.

Để khắc phục những tồn tại này, dự thảo hướng tới kiểm soát an toàn thực phẩm trên toàn bộ chuỗi cung ứng, bắt đầu ngay ở khâu sản xuất ban đầu như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, thu hái, đánh bắt, khai thác và giết mổ.

Các quy định được đề xuất nhằm kiểm soát mức tồn dư thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật và những tác nhân gây ô nhiễm trong thực phẩm. Đồng thời, các điều kiện bảo đảm an toàn được đặt ra trong quá trình sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh và phân phối sản phẩm.

Điểm đáng chú ý là việc kiểm soát nguy cơ được thực hiện xuyên suốt quá trình hình thành và lưu thông sản phẩm. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải chủ động tuân thủ yêu cầu an toàn thực phẩm, trong khi cơ quan quản lý tăng cường giám sát, lấy mẫu và kiểm tra thực phẩm trên thị trường.

Dự thảo cũng đề xuất áp dụng phương pháp phân tích nguy cơ theo hướng dẫn của Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (Codex), làm cơ sở đánh giá, phân loại sản phẩm có nguy cơ cao, nguy cơ thấp để lựa chọn biện pháp quản lý phù hợp.

Cách tiếp cận này được kỳ vọng giúp hoạt động kiểm tra tập trung vào những nhóm sản phẩm, cơ sở có nguy cơ lớn, đồng thời hạn chế tình trạng quản lý dàn trải và sử dụng nguồn lực thiếu hiệu quả.

Cùng với kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng, dự thảo đặt trọng tâm vào cải cách thủ tục hành chính, chuyển mạnh phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Theo định hướng của Bộ Y tế, phần lớn sản phẩm thực phẩm sẽ thực hiện công bố tiêu chuẩn áp dụng theo hình thức tự công bố và chịu sự giám sát, hậu kiểm trong quá trình lưu thông. Sau khi nộp hồ sơ đúng quy định, tổ chức, cá nhân được quyền sản xuất, kinh doanh sản phẩm và phải chịu trách nhiệm về chất lượng, an toàn thực phẩm.

Đối với những nhóm sản phẩm có tính chất đặc thù, liên quan đến khuyến cáo sức khỏe cộng đồng, quy trình sản xuất phức tạp hoặc dành cho nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ mang thai và người bệnh, dự thảo tiếp tục quy định việc đăng ký bản công bố sản phẩm.

Danh mục các nhóm thực phẩm thuộc diện đăng ký được xây dựng theo hướng hạn chế phát sinh thêm thủ tục, cơ bản kế thừa các quy định tại Nghị định số 15/2018/NĐ-CP. Những sản phẩm không tiêu chuẩn hóa, có vòng đời ngắn như thực phẩm tươi sống, rau, củ, quả được định hướng miễn công bố sản phẩm và đăng ký bản công bố.

Đối với doanh nghiệp, một nội dung đáng quan tâm là quy định chuyển tiếp nhằm bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh không bị gián đoạn. Các sản phẩm đã được phê duyệt theo pháp luật hiện hành tiếp tục được sử dụng giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố hoặc bản tự công bố đã có.

Trong thời hạn chuyển tiếp tối đa 36 tháng kể từ ngày Luật có hiệu lực, các cơ sở phải hoàn thiện hồ sơ, cập nhật thông tin sản phẩm trên hệ thống dữ liệu chuyên ngành về an toàn thực phẩm, đồng thời lưu trữ hồ sơ và cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền theo yêu cầu.

Việc đơn giản hóa thủ tục tiền kiểm đồng nghĩa với yêu cầu tăng cường trách nhiệm hậu kiểm. Dự thảo dành những quy định riêng về đối tượng, nguyên tắc, biện pháp, tần suất kiểm tra và trách nhiệm của đoàn kiểm tra, đồng thời bổ sung các biện pháp xử lý nhằm nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật.

Cơ quan chức năng có thể áp dụng các biện pháp như thu hồi giấy đăng ký bản công bố sản phẩm, gỡ bỏ hồ sơ công bố tiêu chuẩn, thu hồi giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm hoặc thu hồi thực phẩm không bảo đảm an toàn theo quy định.

Bên cạnh hoạt động quản lý nhà nước, dự thảo khuyến khích Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội ngành hàng, cộng đồng và người dân tham gia giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Thống nhất đầu mối quản lý, kiểm soát thực phẩm bằng dữ liệu

Một trong những nội dung quan trọng của dự thảo Luật là xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia thống nhất, kết nối giữa Trung ương, địa phương và các bộ, ngành.

Theo báo cáo của Chính phủ, hệ thống dự kiến bao gồm dữ liệu về vòng đời sản phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, tổ chức thử nghiệm phục vụ quản lý nhà nước, kết quả kiểm tra, giám sát và các vụ ngộ độc thực phẩm.

Dữ liệu được kết nối, chia sẻ nhằm phục vụ hoạt động phân tích nguy cơ, truy xuất nguồn gốc, cảnh báo sớm, khoanh vùng sản phẩm và xử lý sự cố mất an toàn thực phẩm.

Theo định hướng được Bộ Y tế công bố, hệ thống này còn có thể liên thông với dữ liệu đăng ký doanh nghiệp, dữ liệu sản xuất ban đầu và ứng dụng công nghệ nhận diện điện tử để theo dõi quá trình lưu thông thực phẩm.

Việc quản lý dựa trên dữ liệu được kỳ vọng giúp cơ quan chức năng có thêm cơ sở xác định các sản phẩm, cơ sở cần ưu tiên kiểm tra. Thông tin về kết quả giám sát, lịch sử tuân thủ và những sự cố đã xảy ra cũng hỗ trợ đánh giá nguy cơ, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào những đợt kiểm tra riêng lẻ.

Đối với người tiêu dùng, theo Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan, dự thảo hướng tới tăng cường khả năng tiếp cận thông tin về vi phạm và sự cố an toàn thực phẩm thông qua hệ thống dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao tính minh bạch trong hoạt động quản lý.

Cùng với chuyển đổi số, việc hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước được xác định là nội dung quan trọng nhằm khắc phục tình trạng phân tán chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan.

Trên cơ sở đề án đã được cấp có thẩm quyền thông qua, dự thảo đề xuất Bộ Y tế là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. UBND các cấp thực hiện quản lý trên địa bàn theo hướng thống nhất một đầu mối tại mỗi cấp.

Theo phương án được nêu trong tài liệu xây dựng chính sách, Chi cục An toàn thực phẩm được định hướng thực hiện chức năng quản lý ở cấp tỉnh; tại cấp xã, cơ quan chuyên môn về văn hóa, xã hội thuộc UBND cấp xã là đầu mối, với công chức có chuyên môn đảm nhiệm.

Các bộ, ngành tiếp tục phối hợp thực hiện nhiệm vụ theo pháp luật chuyên ngành và phân công của Chính phủ, bao gồm kiểm soát an toàn thực phẩm trong sản xuất ban đầu, phòng chống thực phẩm giả, gian lận thương mại, quản lý kinh doanh trực tuyến, kiểm tra thực phẩm xuất nhập khẩu và xử lý các hành vi vi phạm.

Dự thảo cũng chú trọng tăng cường phân cấp, phân quyền, tạo điều kiện để chính quyền địa phương chủ động quản lý, kiểm tra và xử lý những vấn đề phát sinh, đặc biệt đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ.

Đáng chú ý, trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trên các sàn thương mại điện tử và nền tảng số được quy định rõ hơn, phù hợp với sự phát triển của những hình thức kinh doanh mới.

Theo đó, dự thảo xác định trách nhiệm của người bán hàng, đơn vị quản lý nền tảng thương mại điện tử trung gian và các cơ sở cung cấp dịch vụ giao đồ ăn trực tuyến. Những chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm khả năng giám sát, truy xuất nguồn gốc và xác định trách nhiệm nếu xảy ra ngộ độc hoặc sự cố mất an toàn.

Đây là nội dung có ý nghĩa thực tiễn trong bối cảnh hoạt động mua bán thực phẩm và dịch vụ giao đồ ăn qua nền tảng số ngày càng phổ biến, đặt ra những yêu cầu mới đối với kiểm soát chất lượng sản phẩm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Dự thảo đồng thời dành sự quan tâm đối với thức ăn đường phố, bếp ăn tập thể và các cơ sở cung cấp suất ăn cho số lượng lớn người sử dụng, đặc biệt tại các cơ sở giáo dục.

Các quy định được đề xuất nhằm tăng trách nhiệm kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, điều kiện sản xuất, chế biến, bảo quản thực phẩm của đơn vị kinh doanh và tổ chức cung cấp suất ăn.

Đối với bếp ăn tập thể không nhằm mục đích kinh doanh, bao gồm bếp ăn của lực lượng công an, quân đội, dự thảo cũng đặt ra yêu cầu bảo đảm an toàn thực phẩm theo điều kiện và tính chất hoạt động.

Bộ Y tế có trách nhiệm xây dựng, sửa đổi, bổ sung và trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm, hướng dẫn quản lý đối với nhà hàng, cơ sở dịch vụ ăn uống, bếp ăn tập thể và thức ăn đường phố.

Trong khi đó, UBND cấp tỉnh và cấp xã chịu trách nhiệm quản lý, giám sát các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn theo thẩm quyền, nhất là cơ sở nhỏ lẻ, dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố và hoạt động kinh doanh thực phẩm tại chợ.

Bên cạnh năm nội dung lớn, dự thảo còn đề xuất hoàn thiện nguyên tắc áp dụng pháp luật trong trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật An toàn thực phẩm và các luật liên quan; điều chỉnh một số thuật ngữ chuyên môn theo hướng đồng bộ với hệ thống pháp luật và hướng dẫn của Codex; thay thế thuật ngữ “kiểm nghiệm” bằng “thử nghiệm” để thống nhất với các quy định hiện hành.

Các quy định về phân tích nguy cơ, trách nhiệm thực thi và lộ trình phân loại thực phẩm cũng được bổ sung nhằm tạo cơ sở áp dụng các biện pháp quản lý, kiểm tra đối với từng nhóm sản phẩm, bao gồm thực phẩm nhập khẩu và sản phẩm lưu thông trong nước.

Theo Chính phủ, dự án Luật đã được xây dựng theo quy định về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời lấy ý kiến hiệp hội, ngành hàng và các tổ chức quốc tế theo quy định liên quan của Tổ chức Thương mại thế giới và Tổ chức Y tế thế giới.

Dự án Luật đang được trình Quốc hội khóa XVI xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2.

Tin liên quan
Tin khác